Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016
Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2014
Sửa sang từng mảnh nhỏ
TTCT - 1. Năm 2007, tôi lần đầu vẫy một chiếc taxi ở Anh. Khi lên xe, ngoài việc hỏi địa chỉ nơi đến thì anh tài xế vui miệng còn chuyện qua chuyện lại. Có lẽ vì thấy tôi có vẻ bỡ ngỡ, anh mở đầu câu chuyện bằng một câu hỏi rất cũ: Anh là người nước nào?
| Tranh: Lê Thiết Cương |
Tôi, tất nhiên vui vẻ trả lời: Tôi là người Việt Nam. Chuyện bình thường, chẳng có gì đáng nhớ nếu không có thêm một khúc sau đó.
Sau khi đã hỏi qua đáp lại một hồi, anh tài hồn nhiên khoe: Anh biết không, cảnh sát vừa tóm một nhóm người Việt “trồng cỏ” ở London. Vụ lớn lắm, rầm rĩ cả tuần nay.
Tôi sững người sau khi kịp hiểu ra “trồng cỏ” là gì. Xưa nay chỉ nghe loáng thoáng lúc trà dư tửu hậu, vào tai nọ rồi ra tai kia như chuyện ở trên trời, ai ngờ có lúc bị giội thẳng vào mặt như vậy. Ngẩn người một lát lâu, tôi chỉ biết im lặng. Cũng không kịp nghĩ xem ông này nhắc khéo gì mình, hay chỉ vui miệng mà đưa chuyện. Anh tài thấy vậy cũng không nhắc gì thêm nữa.
Nhưng nỗi buồn không rõ từ đâu dội đến, mãi không dứt ra được. Từ đó trở đi, cứ mỗi khi nghe thấy chuyện “trồng trọt” ở đâu đó là tôi lại giật thót. Có khi nào người ta “bóng gió” gì mình? Mình đến đây để làm việc đàng hoàng, dõng dạc bình đẳng như tất cả mọi người.
Nhưng xem ra chỉ mình mới thấy vậy, chứ thiên hạ chưa chắc đã tin vậy. Mà làm sao có thể tin được nếu chả mấy tuần đài báo không có bài về các vụ “trồng trọt” công nghệ cao, trộm cắp tinh vi với những cái tên rất quê hương, và tình tiết ly kỳ ngoài sức hình dung của người thường?
Rồi dần dà người bản xứ định hình một nếp nghĩ, cứ nhắc đến người Việt Nam là họ nhớ ra ngay những chuyện đó. Thương hiệu quốc gia bỗng chốc bị nhấn chìm vào mớ thông tin buồn nản ngại ngùng mà không cách nào thanh minh được. Một cá nhân thôi cũng thấy danh dự của mình bị sứt một mảnh tướng.
Cuộc đời sau đó còn đưa đẩy tôi đi qua nhiều vùng đất khác nhau. Nhưng ngoài chuyện chiến tranh đã là quá khứ, thì khi nhắc đến Việt Nam, những câu chuyện gây đỏ mặt như trên vẫn thường xuyên xuất hiện. Tùy nơi mà kiểu chuyện khác nhau, nhưng cảm giác chung khi nghe là ngượng.
Nhiều lúc ngồi nghĩ đành rằng nước mình vẫn còn khó khăn nhưng có truyền thống hào hùng. Vậy mà bao lần giao tiếp với người nước ngoài, họ chỉ biết Việt Nam đã từng có vài cuộc chiến lớn, rồi sau đó là những chuyện vui ít buồn nhiều.
Khó mà trách họ được. Cuộc sống bận rộn. Dòng thông tin cuồn cuộn chảy. Mấy ai có thời gian để lật lại những chuyện từ ngày xửa ngày xưa của một vùng xa lắc. Những gì nổi trên mặt báo thì họ hớt lấy và tin như thế. Vậy cũng đã đủ mệt, và đủ chính đáng với họ rồi.
2. Hôm rồi, tôi lại giật thót mình khi đọc báo thấy tiếp viên của Vietnam Airlines, tức Hãng hàng không quốc gia Việt Nam, bị nghi tiếp tay tiêu thụ đồ trộm cắp siêu thị ở đất Phù Tang.
Lần đọc tiếp, lại giật thót khi thấy những tấm ảnh chụp biển cảnh báo trộm cắp, biển nhắc nhở ăn bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu trong nhà hàng buffet, viết bằng tiếng Việt, nhưng không phải ở nhà mà xa tít xứ người. Rồi một ông thái tử xứ sương mù bỗng dưng lên truyền hình kêu gọi bảo vệ động vật hoang dã bằng... tiếng Việt.
Sao kỳ lạ vậy? Cảm giác những dòng chữ, tiếng nói Việt bỗng không còn thân thương nữa mà trĩu nặng ngượng ngùng. Bởi chuyện không chỉ là chuyện trong nhà mà đã trở thành mối cảnh giác của người ngoài ở nhiều nơi, nhiều xứ. Những phàn nàn cũng không còn trên mặt giấy mà đã “đi vào thực tế” hùng hổ đến mức người ta phải cắm biển cảnh báo.
Danh dự quốc gia là gì, nếu không phải là tập hợp danh dự của các cá nhân? Câu chuyện tưởng như xa lạ trên mặt báo giờ thật ra là lựa chọn của mỗi người: Phải làm gì trong tình thế oái oăm này? Hẳn chẳng còn cách nào khác, đừng làm xấu đi, đừng nói dối, đừng gây hại thêm, rồi sửa sang từng mảnh nhỏ từ chính bản thân mình.
Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014
Khai trí – Sự nghiệp trăm năm cần tiếp nối
Học sinh Trường tiểu học Lê Văn Tám, TPHCM. Ảnh: ĐỨC TÀI
Làm sao để phát triển? Làm sao để vươn lên? Câu trả lời không là gì khác ngoài những điều một nhóm trí thức tinh hoa đã chỉ ra từ hơn một trăm năm về trước: Trước hết cần khai dân trí.
Nỗi buồn trăm năm
Chí sĩ Phan Chu Trinh là một trong những người khởi xướng phong trào Duy Tân ở Việt Nam. Ông nổi tiếng với khẩu hiệu: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Chuyện kể rằng hơn 100 năm trước, khi về nước hoạt động, rất nhiều người ngưỡng mộ biết tin đã vào ra thăm hỏi không ngừng. Nhưng ai đến thăm ông cũng đều phải trải qua một “thủ tục” lạ đời như sau (*):
- Anh đã đọc Dân ước của Lư Thoa chưa?
- Anh đã đọc Vạn pháp tinh lý của Mạnh Đức Tư Cưu chưa?
Dân ước của Lư Thoa chính là cuốn Du contrat social ou Principes du droit politique, xuất bản năm 1762 (Bàn về khế ước xã hội hay các nguyên lý về quyền chính trị) của Rousseau, còn Vạn pháp tinh lý chính là cuốn De l'esprit des lois, xuất bản năm 1748 (Bàn về tinh thần pháp luật) của Montesquieu.
Đây là những cuốn sách kinh điển của xã hội văn minh phương Tây. Kể từ ngày xuất bản lần đầu, tính đến nay đã được hơn 250 năm. Nhưng thử hỏi trong số chúng ta đây, đã mấy người đọc cả hai cuốn này? Vậy mà hơn 100 năm về trước, Phan Chu Trinh đã nhắc những người đương thời về việc đọc các sách này.
Nói như vậy để thấy, sự nghiệp khai dân trí, ngay từ khi được đôn thúc ở Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20, trên thực tế là đã lạc hậu so với thế giới hàng trăm năm. Nhưng đáng buồn thay, sau hơn 100 năm, đến nay tình hình cũng không sáng sủa hơn là bao nhiêu. Câu chuyện về khai dân trí vẫn là một niềm đau đáu của bất cứ ai quan tâm đến sự phát triển của đất nước.
Ngày nay, nếu cụ Phan Chu Trinh còn sống, và nếu có ai đến thăm cụ, thì ắt hẳn cụ sẽ lặp lại “thủ tục” xưa, tất nhiên là theo ngôn ngữ mới, nhưng xem ra cũng vẫn còn lạ đời không kém:
- Anh đã đọc Khế ước xã hội của Rousseau chưa?
- Anh đã đọc Tinh thần pháp luật của Montesquieu chưa?
Rất có thể phần đông chúng ta sẽ ngậm ngùi lắc đầu trước thủ tục kiểm tra của cụ.
Dù những cuốn này đã được dịch ra tiếng Việt, dù máy tính nối mạng internet, nếu muốn đọc thì chỉ cần ra hiệu sách hoặc lên mạng làm vài động tác bấm chuột là xong. Chỉ cần bấm một ngón tay là sách đã bày ra trước mắt. Nhưng chúng ta vẫn không đọc.
Chúng ta vẫn lắc đầu. Cái lắc đầu kéo dài suốt trăm năm.
Một chuyện không thay đổi
Hơn một trăm năm qua, kho tàng tri thức thế giới đã mở rộng biết nhường nào. Chỉ xét riêng trong địa hạt Vật lý học chẳng hạn, hai lý thuyết nền tảng nhất là Cơ học lượng tử và Lý thuyết tương đối cũng đều ra đời trong khoảng thời gian này. Đây là hai lý thuyết có ảnh hưởng quyết định đến bộ mặt của thế giới văn minh. Nếu không có chúng, tất cả những phương tiện mà chúng ta sử dụng, như tivi, điện thoại di động, máy tính, internet…, và ngay cả bài viết này, sẽ không tồn tại. Cũng nhờ hai lý thuyết này, cùng với sự hỗ trợ của kỹ nghệ, con người đã đặt chân lên đến mặt trăng, và vươn xa hơn nữa ra ngoài vũ trụ. Những chuyện này nếu xét ở thời của cụ Phan Chu Trinh thì không khác gì chuyện cổ tích, thậm chí còn hơn cổ tích.
Sang các lĩnh vực khác như nghệ thuật chẳng hạn, thì trong 100 năm qua, thế giới cũng chứng kiến sự bùng lên của biết bao phương tiện và trường phái nghệ thuật mới. Thậm chí, có những sản phẩm nghệ thuật mà ngay cả trí tưởng tượng phong phú nhất của 100 năm trước cũng không thể hình dung ra được.
Cục diện thế giới cũng bao lần thay đổi. Qua hai cuộc đại bể dâu, hợp tan tan hợp, vật đổi sao dời. Các quyền lực lên rồi xuống. Các trật tự thế giới mới được hình thành. Những kẻ khổng lồ bừng tỉnh dưới sự thúc ép của kỷ nguyên thông tin. Cả thế giới đã trở thành một ngôi làng nhỏ, đến mức nếu muốn thì người ở đầu này có thể nói chuyện và cười nói với người ở đầu kia ngay tắp lự. Những điều này, nếu sống lại, chắc cụ Phan cũng không thể nào hình dung được.
Nhưng kỳ lạ thay, bất chấp mọi sự thay đổi to lớn như vậy, có một thứ dường như vẫn không thay đổi. Đó chính là những câu hỏi của cụ Phan: Anh đã đọc Dân ước chưa? Anh đã đọc Vạn pháp tinh lý chưa? Và tất nhiên phía sau nó là tâm nguyện khai dân trí để phát triển đất nước, vẫn bức bối và thời sự như hơn 100 năm về trước.
Và đáng buồn hơn, khi bàn về câu chuyện này, chúng ta vẫn chưa biết làm sao cho sao hiệu quả!
Vì sao cần tiếp nối?
Trăm năm với bao biến động. Đất nước Việt Nam đã trở mình. Nhưng so ra trường quốc tế thì vị thế vẫn còn kém cỏi nhiều so với bè bạn năm châu. Chỉ mới đây thôi, chúng ta mới vượt được mốc 1000 USD/người/năm, thoát ra khỏi nhóm các nước kém phát triển. Chưa kịp vui thì cái bẫy thu nhập trung bình đã bày ra trước mắt. Kinh tế khủng hoảng triền miên, cơ cấu bất hợp lý, nợ nước ngoài đã đến mức trở thành nguy cơ lại càng làm cho bức tranh thêm ảm đạm. Chưa kể, ngoài biển Đông sóng dậy không ngừng. Kể từ ngày thống nhất, nguy cơ lệ thuộc ngoại bang về kinh tế, văn hóa, chính trị… chưa bao giờ lớn như bây giờ. Thế giới đi quá nhanh, mà ta thì vẫn mãi đì đẹt ở nhóm chót.
Nếu ở thế kỷ 19, để gấp đôi lượng tri thức đã có, thế giới chỉ cần 50 năm, tức khoảng một đời người, thì ngày nay, chỉ cần chưa đến 1 năm. Các nhà khoa học còn dự đoán, thời gian gấp đôi tri thức của thế giới sẽ còn rút ngắn nữa, xuống thang đơn vị tính bằng ngày, bằng giờ.
Những nét phác họa này làm cho chúng ta giật mình nhìn lại câu chuyện 100 năm về trước. Câu hỏi làm sao để phát triển, để theo kịp năm châu lại gióng lên cấp bách. Người ta đi quá nhanh, sao mình còn mãi đủng đỉnh rề rà?
Nếu chỉ tính về mặt tri thức, thì tốc độ phát triển đã tăng lên hơn 50 lần. Nhưng chúng ta vẫn gần như giậm chân tại chỗ. Đó chính là lý do vì sao các nghiên cứu cho thấy năng suất lao động của chúng ta thua sút năng suất lao động của các nước phát triển hàng chục lần.
Mà không chỉ thua kém thế giới phát triển, chúng ta thua cả những người hàng xóm láng giềng có cùng hoàn cảnh với chúng ta 100 năm về trước. Theo báo cáo của Tổ chức Năng suất Á Châu (APO) năm 2012, năng suất lao động của người Việt Nam thua kém năng suất lao động của người Nhật, Mỹ và Singapore khoảng 20 lần.
Vẫn sức vóc ấy, vẫn thời gian làm việc ấy, mà một người của họ làm ra của cải vật chất bằng 20 người của ta cộng lại. Khoảng cách này từ đâu ra? Chỉ có thể giải thích từ sự thiếu hụt tri thức trong tổ chức và triển khai sản xuất.
Vậy làm sao để khắc phục? Làm sao để phát triển? Làm sao để vươn lên?
Câu trả lời không là gì khác ngoài những điều một nhóm trí thức tinh hoa đã chỉ ra từ hơn một trăm năm về trước: Trước hết cần khai dân trí.
Cần đưa tri thức thế giới về Việt Nam
Nhìn sang các quốc gia và vùng lãnh thổ Châu Á láng giềng, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore thì thấy rằng, con đường phát triển của họ cũng không nằm ngoài chuyện khai dân trí. Khi tri thức là sức mạnh, dân tộc nào có được nền tảng tri thức mạnh, có nền khoa học kỹ nghệ tân tiến, thì dân tộc đó sẽ vươn lên dẫn đầu. Còn nếu nền tảng tri thức thiếu trước hụt sau, nhặt nhạnh chắp vá những điều người ta đã bỏ đi từ trăm năm về trước, thì chắc chắn sẽ mãi chìm trong bóng tối của vô minh và lạc hậu, không thể nào phát triển được.
Nếu ngày xưa trong nền kinh tế nông nghiệp, dốt chỉ đồng nghĩa với một đời sống tinh thần nghèo nàn, còn việc sản xuất canh nông có thể trông chờ vào kinh nghiệm từ đời này qua đời khác, thì ngày nay, dốt đồng nghĩa với nghèo, với hèn, với lạc hậu chậm tiến, với phụ thuộc ngoại bang và đánh mất chủ quyền. Lý do thật đơn giản: Trong nền kinh tế tri thức toàn cầu, dân tộc nào tạo ra tri thức, dân tộc đó là người dẫn dắt. Dân tộc nào nắm được tri thức và biết cách khai thác tri thức, dân tộc đó có sức mạnh. Còn dân tộc nào thiếu hụt tri thức hoặc quay lưng với tri thức, dân tộc đó là kẻ phụ thuộc, nghèo hèn.
Chính vì thế, mọi hy vọng đi tắt đón đầu đều không thể nào trở thành hiện thực nếu không có một hạ tầng tri thức đủ mạnh làm bệ phóng, không có những lãnh đạo trí tuệ dẫn dắt, và không có những công dân được trang bị tri thức hiện đại thực hiện.
Cũng chính vì thế, công cuộc khai trí dù được khởi xướng cách đây cả trăm năm, cần phải được tiếp nối. Cần mẫn và kiên nhẫn. Không thể nào khác được.
Chỉ khi nào công cuộc khai trí thành công thì mới hy vọng xây dựng được một hạ tầng tri thức và một nền dân trí mạnh.Chỉ sau đó, các chương trình kiến thiết phát triển mới có thể thành tựu được.
Muốn vậy, tất cả chúng ta, nhất là những người trẻ, cần phải xắn tay lên. Cần phải tiếp nối công cuộc khai dân trí được khởi động từ hơn 100 năm về trước.
Hãy làm việc, không ngồi than vãn nữa. Nếu không, trăm năm sau con cháu mình cũng lại ngồi bàn lại chuyện khai dân trí như chúng ta hiện giờ trong sự buồn oải. Sự buồn oải kéo dài suốt mấy trăm năm.
Nhưng đó chưa phải là viễn cảnh xấu nhất. Việc xấu nhất có thể hình dung được là, nếu cuộc khai dân trí không được tiếp nối, thì trăm năm nữa, thế hệ sau biết có còn chỗ mà ngồi để bàn chuyện khai dân trí nữa hay không?
----------
(*) Xem Nguyễn Văn Trọng, "Tinh thần thời đại, 100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục", NXB Tri Thức, Tr. 269.
Giáp Văn Dương
---
Nguồn: Lao Động số Tết 2014.
Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014
Có cần giải oan cho Đường Tăng?
SGTT.VN - Phải chăng ngay đất Phật cũng tham nhũng, hành chính quan liêu sách nhiễu? Và người đức cao vọng trọng như Đường Tăng cũng phải hối lộ thì mới được việc?
Trần Huyền Trang và đệ tử trong một bản phim Tây du ký. Ảnh: tư liệu
Theo truyện Tây du ký, Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh, trải bao gian khó và cám dỗ, cuối cùng đến được Tây Trúc. Thật oái oăm, ở cửa ải cuối cùng này, thầy trò Đường Tăng lại bị gây khó dễ. Vì không hiểu “luật bất thành văn” nên họ chỉ nhận được kinh vô tự, nói theo ngôn ngữ ngày nay là “hàng giả”. Mang kinh này về thì có cũng như không, vì chẳng có chữ nào mà truyền giảng. Cũng chẳng biết ăn nói thế nào với nhà vua và bàn dân thiên hạ. Nên khi phát hiện ra, thầy trò Đường Tăng cuống cuồng quay trở lại chất vấn. Nên nhớ lúc này Đường Tăng đã thoát xác, bỏ lại cái thân phàm tục trôi sông. Các đồ đệ của ngài cũng đều là bậc thần thánh, chỉ vì mắc lỗi nên mới phải chịu phạt hộ tống ngài sang Tây Trúc thỉnh kinh. Vậy mà khi nhận được kinh vô tự, cả bốn thầy trò vội vã trở lại đấu tranh đòi “hàng thật”.
Rút kinh nghiệm lần trước, lần này thầy trò Đường Tăng đã “hối lộ” hai vị A Nan và Ca Diếp chiếc tô vàng, là thứ mà Đường Tăng dùng đựng thức ăn mỗi khi đi khất thực, thì họ mới nhận được “hàng thật”, tức kinh có chữ, từ Phật Tổ. Thầy trò kiểm tra từng cuốn cẩn thận, như hải quan cửa khẩu, rồi mừng mừng tủi tủi, tạ ơn ra về.
Chuyện kể đại ý như vậy, nhưng diễn giải thì có vô vàn thức. Tranh cãi mải miết mấy trăm năm vẫn chưa dứt.
Đầu tiên là khoản hàng giả hay hàng thật. Đạo Phật vốn đặt nặng vào tính Không. Nên nhiều người cho rằng, chính bản kinh vô tự kia mới là chân kinh, hay đích danh hàng thật. Chính Đức Phật cũng nói: “Suốt 49 năm giảng đạo, ta chưa từng nói điều gì”. Chưa nói điều gì thì làm gì có kinh sách. Nếu có thì cũng chỉ là kinh vô tự mà thôi. Nhưng vì sao ngay cả Đường Tăng, đã đắc thành chính quả, lại cũng không ngộ ra được điều này, không phân biệt được đâu là chân đâu là giả, lại nhất nhất đòi đổi “hàng thật” lấy “hàng giả” là sao? Hay bản thân ông cũng sợ không biết ăn nói thế nào với nhà vua và đại chúng? Đây xứng đáng là một công án thiền cho thiên hạ đau đầu chơi: giả chân chân giả, biết ai ai biết? Phải chăng, đồ giả mà mắt thấy tai nghe sờ mó được thì vẫn hơn đồ thật mà hình bóng đâu đâu không ai hình dung được?
Điều thứ hai là phải chăng ngay đất Phật cũng tham nhũng, hành chính quan liêu sách nhiễu? Và người đức cao vọng trọng như Đường Tăng cũng phải hối lộ thì mới được việc?
Người mến đạo có thể cho đây là một công án nữa cần làm sáng tỏ. Sau nhiều ngày suy nghĩ lao lung, nhiều cuộc tranh cãi chí choé tốn nhiều giấy mực, bỗng một tối ngồi sờ râu cằm, một đêm trằn trọc mất ngủ, hay một sớm độc ẩm bất giác ngộ ra rằng: chuyện đạo đâu phải chuyện đời. Muốn đến được với đạo thì phải buông tất cả. Cái bát này tuy chỉ là bát để xin ăn, nhưng lại làm bằng vàng, do vua ban tặng, nên nó là phú quý quyền uy, là giàu sang danh vọng của đời. Muốn đạt đạo, phải buông bỏ những thứ này trước đã. Buông bát là buông những bả danh hoa phú quý ở đời. Vậy nên, chẳng có chuyện tham nhũng hối lộ gì ở đây cả.
Nhưng chuyện dường như không đơn giản như vậy. Muốn buông thì nói một câu là xong, sao lại phải làm khó nhau đến thế? Mà các vị La Hán cũng rách chuyện: đã đắc đạo rồi thì còn lấy tô vàng làm chi cho mệt. Đã bắt kẻ khác buông thì sao mình lại nhận về? Mà nếu không phải vậy, chỉ là giở bài trêu chọc, thì có phải là các vị vẫn thích đùa giỡn bông lơn chưa thoát khỏi vòng hỷ nộ?
Hay trên đời cái gì cũng có giá. Vật càng trân quý thì giá càng cao. Nếu vật quý mà cho không lại sinh lòng khinh miệt. Vậy nên, vô giá như đại đạo chân kinh thì sao có thể cho không, mà kẻ nhận thì sao có thể nhận không mà về được? Ai cũng nhận không thì sẽ sinh lòng khinh rẻ, nên dù có chân kinh trong tay thì cũng như không có?
Nhưng Đường Tăng đây có nhận không? Để đi được đến đó phải qua biết bao khổ nạn, vượt qua biết bao cám dỗ. Ngoài thời gian ra thì còn phải trả biết bao chi phí cơ hội khác. Hiểm nguy không ngại, sống chết không màng, lòng thành đã rõ, nếu tính chi li thì cũng là vô giá, vậy sao còn bày trò thử thách làm chi?
Đại ý cuộc tranh cãi cứ tiếp diễn như vậy, dây cà ra dây muống, công án này chồng công án kia. Vò đầu bứt tóc, cứ ngỡ giải được cái này, chưa kịp vui thì cái khác lại ló ra tắp lự. Nhưng xem ra việc giải các công án này chỉ là việc của kẻ vô công rồi nghề hay bậc trí giả. Chứ người đời ai quan tâm làm chi. Họ chỉ quan tâm đến khía cạnh ứng dụng của câu chuyện này mà thôi.
Nhờ có chuyện này mà lương dân thấp cổ bé họng khi bị hạch sách phải đút lót thì cũng chặc lưỡi cho qua. Đến Đường Tam Tạng còn phải hối lộ thì nói gì mình, muốn được việc thôi cứ bát vàng đi trước cho đỡ mệt xác. Tôn Ngộ Không, 72 phép thần thông biến hoá, trời không biết sợ, mà cũng phải làm ngơ cho vụ này thì nói chi tài hèn sức mọn như mình. Vậy nên bát vàng đi trước là bát vàng khôn.
Kẻ thích đạo đức thì lắc đầu ngao ngán. Thiên hạ loạn hết cả rồi. Đến La Hán cũng còn ăn đút lót. Mà lại ăn ngay đất Phật, thế mới điên đầu. Dưới vòm trời này, xem ra không còn chỗ nào gọi là trong sạch. Xem ra không thể tin ai. Phải chăng vì lợi ích nhóm? Đúng là đại loạn, đại loạn!
Nhưng vui nhất có lẽ là quan nha. Từ nay tha hồ lấy đó làm niềm an ủi: Thấy không, ngay cả đất Phật cũng có tham nhũng. Đến La Hán còn ăn hối lộ. Vậy trách gì chúng tôi người phàm mắt thịt, tham sân si chưa dứt? Mà xem ra chuyện tham nhũng đút lót cũng chẳng có gì là xấu, xứ Phật còn như thế, huống gì là xứ người.
Vậy là chỉ một chi tiết nhỏ trong một câu chuyện hư cấu của xứ Tàu đã làm bao người xứ ta điên đầu, nhưng cũng lại là phao cứu sinh cho biết bao người. Thế mới biết diễn giải của người đời phong phú đến bực nào. Diễn giải thế nào không hẳn dựa vào đúng hay sai, mà chủ yếu là thế nào thì có lợi cho mình nhất. Nếu không thì ít ra cũng an ủi được mình nhất. Còn chuyện đúng sai chỉ Đức Phật biết.
À mà không, rất có thể Phật cũng không biết, chỉ có Ngô Thừa Ân biết, vì ông là người sáng tác tình tiết oái oăm này. Khi viết đoạn này, có thể Ngô Thừa Ân chỉ bông đùa chứ chẳng hàm ý sâu xa gì, đâu ngờ chi tiết này lại làm đau đầu và tốn giấy mực bao người, trong đó có kẻ viết bài này. Và chắc chắn, ông không thể ngờ 500 năm sau ở một xứ lạ hoắc, điều ông viết ra lại trở thành phao cứu sinh cho biết bao quan nha, để họ vin vào đó mà đòi tô vàng của người dân thấp cổ bé họng, và dập tắt đi ý niệm về một sự công chính cần phải có.
Ô hô! Ai tai!
GIÁP VĂN
---
Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014
Hy vọng những đốm lửa nhỏ cần mẫn
Cạn kiệt niềm tin
Cũng khoảng giờ này năm ngoái, khi mới chân ướt chân ráo trở về, sau khi có vài trải nghiệm thực tế, tôi có viết một bài báo nhỏ có tiêu đề: Câu chuyện của niềm tin.
Đại thể, tôi kể lại những va chạm thực tế để thấy rằng, mất niềm tin đang là cái đáng lo ngại nhất trong xã hội Việt Nam dưới con mắt của một người mới nhập cuộc. Vì thiếu niềm tin nên mọi việc bỗng trở nên khó khăn và tốn kém gấp bội. Cuộc sống bỗng trở nên toàn màu xám. Con người căng thẳng, hiệu năng làm việc thấp vì hợp tác kém, mà lý do chính là không tin nhau, nên dành thời thời gian kiểm soát nhau thay vì phối hợp làm việc chung.
Ngay lúc đó, tôi đã nhận ra rằng: một trong những vấn đề lớn nhất mà xã hội này phải đương đầu là sự mất niềm tin trầm trọng. Niềm tin giữa người dân và chính quyền, giữa người dân và doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhau, tóm lại là giữa người và người, và đặc biệt là niềm tin vào bản thân mình.
Sau đó, mỗi khi gặp mặt, ngay cả với giới tinh hoa, giữa những than thở, hay đằng sau ánh mắt xa xăm, là một sự chán nản và khắc khoải. Rất ít hy vọng và lòng tin các câu chuyện. Sau những lần như thế, tôi thấy rất mệt mỏi. Sinh lực dường như đã bị rút hết đi, đến mức nhiều khi sợ gặp gỡ, vì sợ phải nghe những lời than như vậy.
Trong số những người tôi quen biết, mỗi người chọn một cách phản ứng khác nhau. Nhiều người chọn sự cam chịu. Nhiều người lảng tránh. Lảng tránh thực tại, lảng tránh nhìn vào mắt người đối diện.
Nhiều người giết thời gian trên bàn nhậu. Có tiền thì nhậu sang, ít tiền thì bình dân. Thanh niên ít tiền hơn thì giết thời gian trong các quán trà đá vỉa hè.
Người không thích nhậu, hoặc không đủ sức để nhậu, hoặc không có tiền để nhậu thì vùi mình vào các trang tin lá cải, mỗi ngày ngốn hàng chục bài tin tức, na ná như nhau vô thưởng vô phạt. Sau đó bức xúc một hồi, càm ràm hoặc nặng hơn là chửi đổng vài câu rồi lại vùi đầu đọc tiếp.
Nhiều người bức xúc quá có phản ứng mạnh. Nhưng như con cá nằm trên lưới, càng giãy giụa càng đau đớn. Nên sau một hồi mệt mỏi, cũng đến lúc nằm in mackeno.
Kinh tế khó khăn, tinh thần bức bối. Xã hội, đặc biệt là phát ngôn của các quan chức, các nhà làm chính sách bỗng trở nên đáng ngờ. Các mạng lưới hoạt động trong xã hội giờ chỉ còn quan hệ huyết thống là đáng tin cẩn. Vì thế, vun vén cho gia tộc, xây dựng nhà thờ họ, đã trở thành mốt trong lối sống của những người có địa vị trong xã hội.
Xã hội dường như vận hành bởi bộ tiêu chuẩn kép. Ai cũng biết vậy mà không phải vậy. Không phải vậy mà vẫn là như vậy. Nên ở cơ quan sống theo một chuẩn, ra xã hội lại một chuẩn khác, về nhà lại một chuẩn khác nữa. Mỗi người phải đóng quá nhiều vai diễn, đến mức mệt mỏi kiệt quệ, mà không biết để làm gì.
Chưa bao giờ các hoạt động tâm linh cúng bái lại phát triển như hiện giờ, bất chấp khoa học đã phát triển hơn nhiều so với hàng chục năm về trước, thông tin cũng phong phú hơn nhiều. Vì sao vậy? Vì người ta không tin ở con người, nên đành tìm đến nơi thánh thần, dù biết rằng cũng nhiều kẻ lợi dụng việc này để trục lợi.
Nhiều lần đi qua các quán nhậu ven đường, tôi đã tần ngần tự hỏi: sao trong giờ làm việc lại đông người lang thang la cà quán xá đến như vậy?
Những nơi tôi đã đi qua, không ở đâu tôi thấy đông thanh niên trai tráng ngồi lê la vỉa vè, cắn hạt bí, hạt hướng dương, uống nước chè, tập tọng hút thuốc lào, nói bậy và chửi đổng… nhiều như trên các vỉa hè Hà Nội, đặc biệt nơi các cổng trưởng Đại học.
Không ai nói chuyện khoa học, văn chương. Không ai quan tâm đến bảo tàng, triển lãm. Không ai bàn tán về các thành tựu tư tưởng, khoa học, nhân văn mới. Không ai đả động đến ước mơ hay khát vọng.
Những buổi nói chuyện dành cho đại chúng về các chủ đề rất mới, do các học giả nổi thuyết trình, cũng không có nổi đến vài chục người tham dự. Mà nếu có thì vẫn là những khuôn mặt ấy. Rất cũ.
Cả một thành phố bảy, tám triệu dân, hơn cả một nước của người ta, vậy mà nhàm chán một cách không thể tưởng tượng được. Cuộc sống trở nên tầm thường và vụn vặt không thể tả.
Trên mặt bằng truyền thông thì còn tệ hại hơn nhiều. Nếu rút tất cả những tin tức liên quan đến chuyện hở hang, chém giết, sốc, sex, giật gân thì bỗng thấy nhiều tờ báo sụp cái rầm vì trống trơn bài vở.
Một năm trôi qua, câu chuyện lại có phần thêm u ám. Một xã hội thiếu hụt niềm tin mỗi ngày thêm hiển hiện rõ nét qua từng việc từng vụ cụ thể, chứ không chỉ là cảm giác như ngày nào.
Mỗi khi cầm một sấp giấy tờ với chồng chất những dấu mộc đỏ choét, tôi không khỏi ngần ngại. Chưa ở đâu tôi những văn bản giấy tờ cần nhiều dấu đỏ như vậy, qua nhiều cửa ải xét duyệt như vậy. Nhưng cũng chưa ở đâu sự giả mạo trở nên phổ biến, được rao bán công khai như ở đây.
Cái nguy hiểm của sự mất niềm tin này là sự bào mòn sinh khí. Nếu như sự sợ hãi làm cho con người ta co cụm, đến một lúc nào đó có thể tạo ra một sự phản ứng đủ mạnh để vượt qua, thì mất niềm tin không gây ra một cảm xúc mạnh như vậy. Nó chỉ đơn giản là làm mất hết sinh khí, vì người dân không còn tin vào công lý, không tin vào chính quyền, không tin ai, và không tin ngay cả bản thân mình.
Tan hoang vốn xã hội
Còn nhớ mỗi khi bàn về vốn xã hội, tuy có nhiều cách tiếp cận và lý giải khác nhau, nhưng chúng tôi đều thống nhất ở một điểm: niềm tin nằm ở trái tim của vốn xã hội. Đó là niềm tin giữa người với người, người với thể chế, người với chính bản thân mình.
Vậy là niềm tin, một khái niệm xa lạ với môn kinh tế học phát triển, đã có được chỗ đứng đàng hàng trong lòng nhiều nhà kinh tế học.
Niềm tin đã trở thành một thứ vốn của xã hội. Mà đã là vốn thì có thể dùng để sinh lợi. Trong trường hợp này, niềm tin đã trở thành một thứ tài sản giúp cho xã hội hoạt động trơn tru hơn hiệu quả, chi phí giao dịch vì thế mà ít đi.
Khi có niềm tin thì việc gì cũng suôn sẻ dễ dàng. Điều này đúng ở quy mô cá nhân, cũng đúng cả ở quy mô quốc gia. Tiếc là các nhà lãnh đạo chỉ lo hứa hẹn xây dựng lòng tin chiến lược với bên ngoài, mà quên mất lòng tin với dân mình mới là điều quan trọng nhất.
Các chính trị gia lão luyện Đông Tây kim cổ đều đặt vấn đề xây dựng lòng tin với dân mình lên hàng đầu. Ngay ở Việt Nam cũng đã có những ví dụ này từ xa xưa trong lịch sử. Tương truyền, để dân tin vào cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi, trong lúc binh yếu lực mỏng, Nguyễn Trãi đã cho người dùng mật mỡ viết lên lá tám chữ: Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần lên lá đa. Kiến thấy vậy bu vào thành chữ. Người dân đọc được thì tin rằng đây đúng là mệnh trời, nên dốc lòng ủng hộ.
Vì sao Nguyễn Trãi lại làm việc này, nếu không phải là để gây dựng một lòng tin với dân chúng. Có được niềm tin của dân là có tất cả. Bài học vỡ lòng dành cho các chính trị gia xem ra vẫn còn là điều xa lạ.
Tất nhiên, bên cạnh niềm tin, thì vốn xã hội còn có thêm các yếu tố khác nữa. Có thể kể hai trong số đó: thói quen, tập tục, tức truyền thống trong văn hóa ứng xử, đặc biệt là sự minh bạch và trung chính trong hành xử; và sự phong phú lành mạnh của các hội đoàn, tức của mạng lưới xã hội dân sự.
Tiếc rằng, cả hai yếu tố này cũng rất yếu. Đút lót hối lộ dường như đã thành văn hóa, gọi là văn hóa phong bì. Sự giải dối đã tràn vào cả trường học, nên bị gọi là ‘nỗi nhục lớn của ngành giáo dục’. Các tổ chức dân sự thì thiếu vắng, nếu có thì èo uột, nên không thể kết nối để hỗ trợ người dân và chia sẻ công việc xã hội với một hệ thống hành chính kém hiệu quả.
Cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài suốt mấy năm nay lại càng làm cho vốn xã hội thêm kiệt quệ. Lẽ ra, nếu có một vốn xã hội dắt lưng đủ dày, người dân sẽ dễ vượt qua những thời khắc khó khan hơn, vì tin nhau, tin vào quan chức và chính sách chung. Đằng này, quan chức nói gì, dân chúng lại bảo nhau làm ngược lại.
Kinh tế rối loạn, lòng người hoang mang. Khó khăn càng thêm chồng chất không biết đến khi nào mới gỡ được.
‘Mất tiền là mất ít, mất bạn là mất nhiều, nhưng mất lòng tin là mất tất cả’. Người xưa đã tổng kết như vậy, nên thấy thực trạng này, không ai tránh khỏi sự buồn rầu.
Nhiều lúc nhìn xã hội như mới bòng bong, không biết lần ra ở đằng nào. Mà lần ra được rồi thì cũng không gỡ ra được vì nó xoắn xuýt chặt chẽ vì lợi ích, vì bè phái, vì u mê. Những lúc như thế, chỉ muốn than một câu: Làm người đã khổ, nhưng làm người Việt Nam dường như khổ hơn gấp bội.
Nguyên nhân vì đâu? Tất nhiên là vì cơ chế. Ai chả nói thế. Dễ nhất và trúng nhất. Nhưng cơ chế do ai làm ra? Tất nhiên là do con người, trong đó có tôi và bạn.
Nhưng cụ thể hơn, đó là cái gì của tôi và bạn? Sức khỏe, văn hóa, tri thức, học vấn, kỹ năng, tinh thần sáng tạo, ước mơ, khát vọng, lòng quả cảm, sự dấn thân, … hay còn gì khác nữa?
Câu trả lời là tất cả.
Đến đây mới lại thêm giật mình. Thì ra mọi thứ be bét cũng có phần ta đóng góp. Vậy nên, thay vì trông chờ vào một sự thay đổi lớn, hãy chủ động tạo ra những sự thay đổi nhỏ trước đã.
Nếu không thay đổi được đời, thì thay đổi ta trước vậy. Khi những ngọn đuốc lớn đã không thể cháy thì chỉ còn hy vọng vào những đốm lửa nhỏ, kiên nhẫn và cần mẫn.
Nhiều việc nhỏ góp lại sẽ thành việc lớn. Xưa nay vẫn thế, có cách nào khác được.
---
Bản thảo bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 2/1/2014
Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014
Phía sau bạo hành
Nạn bạo hành đang là chủ đề nóng và nhức nhối trên báo chí thời gian gần đây. Bạo hành chồng lên bạo hành dưới nhiều dạng khác nhau, như một vòng xoáy nhân quả chưa có hồi kết. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, thì không phải bây giờ nạn này mới bùng lên, mà chỉ bởi truyền thông bây giờ giúp chúng ta nhìn rõ hơn, chứ nạn bạo hành ắt hẳn đã có từ trước đây rất nhiều.
Ngay cả như trường hợp bạo hành trẻ em ở nhà trẻ Phương Anh đang bị dư luận phản đối rầm rộ trong những ngày này, hai cô giáo sau khi bạo hành trẻ, thì ngay lập tức lại bị bạo hành bởi truyền thông.
Tuy chưa có nghiên cứu chi tiết để so sánh xem nạn bạo hành này có giảm đi theo thời gian hay không, nhưng theo cảm nhận của cá nhân người viết, nạn này không hề giảm. Lý do: ngoài những nguyên nhân gốc dễ chưa khắc phục được, thì sự cộng hưởng với bạo lực trong trò chơi, phim ảnh, rượu, khó khăn kinh tế, bất công xã hội…, nạn bạo hành có nguy cơ tăng chứ không giảm.
Vậy đâu là lý do cho tình trạng này? Vì sao người ta bạo hành với những người không có khả năng chống cự, nhiều khi là chính những người thân thiết, như vợ hoặc con mình?
Liệu có phải là do sự bế tắc của cuộc sống khó khăn làm cho con người ta trở lên hung bạo? Điều này có thể đúng, nhưng chỉ một phần rất nhỏ. So với trước đây, cuộc sống đã bớt khó khăn về vật chất hơn rất nhiều, nhưng nạn bạo hành dường như không giảm, mà còn có phần ‘hoang dại’ hơn xưa. Sự bạo hành này còn được tiến hành bởi những người không phải cùng quẫn về vật chất. Họ là những người có công ăn việc làm đàng hoàng, đôi khi có vị trí trong xã hôi, nhưng vẫn bạo hành những người không có khả năng kháng cự.
Chưa trưởng thành?
Vậy thì đâu là nguyên nhân? Có phải đó là một sự thất bại sâu xa của giáo dục? Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là văn hóa không biết đối thoại và cho rằng không cần đối thoại. Không ai được dạy cách đối thoại sao cho đúng và hiệu quả. Ngay cả người lớn cũng vậy, cũng không được học về đối thoại và không có ý niệm đúng về sự cần thiết của đối thoại. Chính vì thế, khi gặp xung đột, thay vì đối thoại để tìm ra cách giải quyết, người ta có xu hướng dùng bạo lực để dập tắt vấn đề.
Không ai được dạy cách đối thoại sao cho đúng và hiệu quả. Ngay cả người lớn cũng vậy, cũng không được học về đối thoại và không có ý niệm đúng về sự cần thiết của đối thoại. Chính vì thế, khi gặp xung đột, thay vì đối thoại để tìm ra cách giải quyết, người ta có xu hướng dùng bạo lực để dập tắt vấn đề.
Trong gia đình và nhà trường, đối thoại không được khuyến khích. Giữa chính quyền và nhân dân cũng vậy, đối thoại bình đẳng vẫn chỉ là mong đợi. Ra lệnh một chiều từ trên xuống, và vâng lời từ dưới lên là một sự phổ biến. Trong trường hợp ngược lại, sẽ bị ‘cưỡng chế’.
Điều thứ hai tôi nghĩ đến đó là sự chưa trưởng thành về văn hóa, trí tuệ và nhân cách. Khi thấy hai trẻ đánh nhau thì chúng ta đều cho đó là điều dễ hiểu, vì các em chưa trưởng thành. Nhưng khi người lớn đánh trẻ em thì chúng ta phải đặt câu hỏi: liệu có phải người lớn đó cũng chưa trưởng thành? Anh ta đã dùng phương pháp của trẻ con để giải quyết vấn đề. Vậy trong sâu xa, sự trưởng thành của anh ta không hơn trẻ bao nhiêu.
Một nền văn hóa được cho là duy cảm, tức những con người của nó sống nặng về cảm xúc, lại ít tình yêu thương với trẻ nhỏ và phụ nữ như vậy hay sao?
Vì sao nhiều văn bản luật đã ban hành, nhiều chiến dịch tuyên truyền rầm rộ, lại không mang lại hiệu quả. Hay bởi vì chính những người làm luật, những người tuyên truyền, cũng lại đang bạo hành những người yếu đuối hơn, theo một cách khác?
Có phải vì thế mà thi sĩ Tản Đà, sinh thời đã phải thốt lên: “Dân hai nhăm triệu ai người lớn / Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”.
Nay sau gần trăm năm, dân số đã đạt chín mươi triệu, mà lời than của Tản Đà vẫn không thay đổi. Vì chúng ta vẫn chưa trưởng thành, hay vì “cái nước mình nó thế”, hay vì nguyên nhân nào khác?
Nếu chỉ cần ý thức được, chúng ta vẫn còn chưa trưởng thành, thì như vậy đã giúp kiềm chế để có thể thỏa hiệp và nói chuyện được với nhau. Rồi từ đó sẽ học hỏi thêm mà trưởng thành dần, có thể đối thoại được với nhau và với ngoài ngoài một cách bình đẳng.
Như vậy, câu chuyện về nạn bạo hành trẻ nhỏ không còn chỉ là chuyện bạo hành thuần túy, mà ẩn chứa phía sau một câu chuyện văn hóa lớn. Phải chăng, sau nhiều nghìn năm tồn tại, nền văn hóa của chúng ta vẫn chưa trưởng thành? Và nếu đúng như vậy, thì vì sao? Vì chúng ta từ chối sự trưởng thành, hay không được phép trưởng thành, hay môi trường xã hội không cho phép chúng ta sống như một người trưởng thành, tự chủ và có nhân cách?
Vẫn còn thù hận?
Lịch sử nhiều nước mắt của chúng ta có tham gia gì về câu chuyện bạo lực này? Khi bạo lực là một cách thức để tồn tại trong hàng chục năm chiến tranh, nhiều thế hệ đã chung sống và quen với nó, thì dư chấn của nó vẫn còn rất mạnh khi xã hội đã chuyển sang thời bình.
Nhừng thù hận không thể tránh khỏi như một di sản của những cuộc chiến kéo dài có ảnh hưởng gì đến sự bạo hành này? Phải chăng đây chỉ là một sự bùng phát, ở nhiều cấp độ, nhiều thể dạng, của một lòng thù hận, nhiều khi đã ẩn vào vô thức, nhưng chưa được gỡ bỏ. Cứ mỗi khi có cơ hội là lại bùng lên. Người lớn bạo hành trẻ nhỏ, chồng bạo hành vợ, cấp trên bạo hành cấp dưới, quan bạo hành dân, dân bạo hành lẫn nhau… dưới nhiều thể dạng?
Bạo hành mà chúng ta nhìn được, gây ra hậu quả nhãn tiền bằng những vết thương trên cơ thể, chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm. Theo logic thông thường, đi trước hành động thường là lời nói, đi trước lời nói là suy nghĩ. Chính suy nghĩ, dù ở dạng vô thức hay ý thức, quyết định hành động. Vậy thì chắc hẳn phải có một cuộc bạo hành vô hình và dữ dội trong đời sống tư tưởng của mỗi người. Sự bạo hành vô hình trong tư tưởng này, mà mỗi người đều là chủ thể và nạn nhân, sẽ bộc lộ ra ngoài dưới dạng bạo hành vật lý mà chúng ta chứng kiến.
Ngoài đánh đập, thì tiếng chửi bới chua ngoa, nhiều khi được xem như một đặc sản văn hóa, phải chăng cũng là biểu hiện của sự thù hận và bạo hành bằng ngôn ngữ này? Nếu không, thì giải thích làm sao khi người ta sẵn sàng xả vào nhau những câu chua cay đau đớn, để rồi án mạng có thể xảy ra tức thì?
Và rồi nữa, từ bạo hành trong suy nghĩ, đến bạo hành trong ngôn ngữ, đến bạo hành trong hành vi, khoảng cách là bao xa? Hay chúng chỉ là một và không có khoảng cách?
Vậy nên, nếu không xóa bỏ được sự bạo hành trong tư tưởng, và sau đó là bạo hành bằng ngôn ngữnày, thì không bao giờ có thể xóa bỏ được sự bạo hành bằng hành động mà chúng ta đã và đang thấy hằng ngày.
Đến đây hé lộ vai trò của giáo dục. Sự phổ biến của bạo hành mách cho chúng ta biết sự thất bại của giáo dục, cả trong gia đình và nhà trường. Thứ giáo dục áp đặt một chiều, để khi kết thúc hàng chục năm đi học, người ta vẫn không thể trưởng thành, không phải là thứ giáo dục đúng.
Cái chúng ta cần không phải là thứ giáo dục áp đặt này, mà là giáo dục giúp con người được trưởng thành sau những năm tháng đến trường, được tự do và tự chịu trách nhiệm về mình, từ suy nghĩ đến hành động, trong sự liên đới đến nhân phẩm và cuộc sống của người khác.
Cái chúng ta cần cũng không phải là một nền giáo dục nuôi dưỡng những mầm mống của thù hận, hoặc thất bại trong việc gạt bỏ những mầm mống này, nên mỗi khi có dịp thì thù hận lại trào ra.
Cái chúng ta cần một nền giáo dục tự do, tự chủ, giàu yêu thương và không mầm thù hận.
Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể đối thoại với nhau được. Đối thoại trong sự tôn trọng, để dần dà có thể đối thoại trong sự tương kính và tương ái.
Khi đó, bạo hành sẽ tự động được xóa bỏ, văn hóa cũng tự động trưởng thành. Còn không, chúng ta sẽ mãi sống trong một xã hội vị thành niên và thù hận lẩn khuất, để rồi bạo hành dưới nhiều thể dạng khác nhau có thể trào ra bất cứ lúc nào.
Giáp Văn Dương
(Bài đã đăng trên Người Đô Thị)
Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013
Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013
Bạn nghiện Internet tới mức nào?
TTCT - Chứng nghiện Internet (1), một dạng cụ thể của chứng nghiện công nghệ mà một phiên bản dễ thấy nhất là cơn say lướt Facebook, là một trong những vấn đề thời sự ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu lên tiếng cảnh báo.
Tuy nhiên, nghiện Internet có tương tự các chứng nghiện đã được biết đến như nghiện rượu, nghiện thuốc lá, nghiện ma túy?
| Nhiều quốc gia đã thừa nhận hội chứng nghiện Internet là nguy cơ tàn phá sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ - Ảnh: Tự Trung |
Hội chứng nghiện Internet được đề xuất lần đầu tiên năm 1995 bởi Ivan Goldber khi ông mô tả chứng nghiện đánh bạc theo các tiêu chuẩn của Sổ tay thống kê và chẩn đoán các bệnh tâm thần (2), phiên bản 4 (DSM-4).
Có chăng chứng nghiện Internet?
Cùng với sự phát triển của công nghệ băng thông rộng và sự phổ cập của Internet, truyền thông đại chúng đề cập đến chứng nghiện Internet ngày càng nhiều. Tuy nhiên, đó có phải là một chứng nghiện hay không thì đến nay vẫn chưa thống nhất.
Năm 2006, Hiệp hội Y khoa Mỹ (American Medical Association) đã từ chối việc khuyến nghị Hiệp hội Tâm thần Mỹ (American Psychiatric Association) đưa chứng nghiện Internet vào Sổ tay thống kê và chẩn đoán các bệnh tâm thần, phiên bản 5 (DSM-5). Cuốn sổ tay này vừa được công bố ngày 22-5-2013. Trong đó, tuy bị từ chối là một bệnh nghiện chính thức, nhưng Hiệp hội Tâm thần Mỹ vẫn đưa chứng nghiện Internet vào phần phụ lục với hàm ý đây là vấn đề đáng quan tâm, cần nghiên cứu tiếp. Tuy nhiên, chứng nghiện Internet vẫn là một chủ đề được giới chuyên gia lưu ý bàn thảo (3).
Với một số nước châu Á như Hàn Quốc và Trung Quốc thì chứng nghiện Internet được coi là một hiện tượng thực tế đáng lo ngại, không cần phải bàn cãi, nhất là khi ngày càng có nhiều thanh thiếu niên vì mải mê chơi trò chơi trực tuyến (4) đến mức chết tại chỗ trong quán Internet. Với Hàn Quốc, chứng nghiện Internet thậm chí còn bị xếp thành một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất về sức khỏe cộng đồng (5).
Theo thống kê, ngay từ năm 2006, Hàn Quốc đã có 210.000 trẻ em tuổi từ 6-19 bị mắc chứng nghiện Internet và cần điều trị. Trong số đó, 20-24% số trẻ này cần phải được điều trị trong bệnh viện. Ngoài ra, do chơi điện tử nhiều, lên đến 23 giờ/tuần, nên 1,2 triệu học sinh Hàn Quốc cũng có nguy cơ bị nghiện Internet và cần được tư vấn ở cấp độ cơ bản. Đến tháng 6-2007, Hàn Quốc đã huấn luyện 1.043 chuyên gia tư vấn để làm việc trong 190 trung tâm và bệnh viện điều trị chứng nghiện Internet.
Tại Trung Quốc, tình hình cũng đáng lo ngại ở mức tương tự. Theo báo cáo, năm 2007 có khoảng 10 triệu thanh thiếu niên Trung Quốc mắc chứng nghiện Internet, ứng với khoảng 13,7% thanh thiếu niên sử dụng Internet.
Các nghiên cứu khác cho thấy với đại chúng, tỉ lệ người có dấu hiệu nghiện Internet vào khoảng 6-15%. Với học sinh sinh viên, tỉ lệ này lên đến 13-18,4% (6). Như vậy, có thể ước lượng sơ bộ tỉ lệ người nghiện Internet trung bình là khoảng 10% số người sử dụng.
Số người sử dụng Internet ở Việt Nam tính đến tháng 11-2012 lên đến hơn 31 triệu người (7). Tuy chưa có nghiên cứu thống kê nhưng nếu tỉ lệ người có triệu chứng nghiện Internet tính ở mức thấp nhất là 6% thì tỉ lệ người có triệu chứng nghiện Internet lên đến 1,8 triệu người. Một con số đáng lo ngại. Tuy nhiên, ở Việt Nam có thể có tình trạng nhiều người dùng chung một máy tính nên tỉ lệ người nghiện Internet sẽ ít hơn. Để làm rõ tình trạng này cần thiết phải có một điều tra xã hội học nghiêm túc trước khi đưa ra những kết luận chắc chắn.
Các hình thức nghiện phổ biến
Chứng nghiện Internet biểu hiện ở rất nhiều hình thức khác nhau. Một trong số các hình thức đó có thể được liệt kê dưới đây:
- Nghiện trò chơi điện tử trực tuyến (game online).
- Nghiện các nội dung khiêu dâm, đồi trụy trên mạng.
- Nghiện đánh bạc, mua sắm trên mạng.
- Nghiện nhắn tin và tán gẫu trên mạng.
- Nghiện lang thang vô định trên mạng.
- Nghiện tìm kiếm và đọc những nội dung không cần thiết.
Mô hình bệnh lý
Để giải thích nguyên nhân gây ra chứng nghiện Internet, cần thiết phải đưa ra một mô hình bệnh lý. Về đại thể, mô hình này có thể chia thành ba loại chính như sau (8):
1. Mô hình nhận thức - hành vi
Theo mô hình này, việc lạm dụng Internet là do nhận thức lệch lạc dẫn đến hành vi cũng lệch lạc theo, như chơi game online (trò chơi trực tuyến) quá mức, đánh bạc, truy cập các nội dung đồi trụy quá nhiều… tạo ra chứng nghiện Internet. Vì thế, điều trị chứng nghiện Internet trong trường hợp này sử dụng lý thuyết nhận thức - hành vi, theo đó nhấn mạnh việc sử dụng Internet có kiểm soát, và cho rằng chính suy nghĩ, nhận thức sẽ tạo ra cảm xúc, vì thế cần phải xác lập nhận thức đúng trước hết.
Việc điều trị chứng nghiện Internet theo cách này có những đặc điểm rất gần với một số quan niệm của nhà Phật như chánh kiến, chánh niệm, chánh tư duy. Vì thế, có thể vận dụng những quan điểm gần gũi này của văn hóa Phật giáo truyền thống để giúp người nghiện Internet điều chỉnh hành vi của mình.
2. Lý thuyết bù trừ
Theo lý thuyết này, người dùng Internet cảm thấy được bù đắp những khiếm khuyết ở ngoài đời thực, đặc biệt là với giới trẻ. Chẳng hạn, áp lực học hành nặng nề và đặc biệt là hệ thống thi cử, đánh giá tài năng chỉ dựa trên điểm số đã làm giới trẻ mệt mỏi và tìm kiếm sự khẳng định mình trên thế giới ảo. Ngoài đời, một trẻ có thể nhút nhát, ít bạn, hay bị trêu chọc, điểm số kém, nhưng trên thế giới ảo, cậu ta có thể là một game thủ có tiếng và được vị nể.
Ngay cả người lớn cũng có xu hướng dùng thế giới ảo để tìm kiếm cảm giác bù đắp những thất bại hoặc trốn tránh các khó khăn thực ngoài đời. Việc kết bạn, giao lưu, khẳng định mình trên mạng cũng dễ dàng hơn so với ngoài đời thực. Vì thế, bên cạnh việc tìm kiếm sự thừa nhận mình trên mạng thì việc trốn tránh cuộc đời thực bằng cách sống trong thế giới ảo cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến chứng nghiện Internet.
Theo mô hình này, cách thức điều trị tốt nhất là khuyến khích các hoạt động thực ngoài đời, giao lưu thực, bình tĩnh giải quyết các khó khăn thực, đặc biệt phải cải tiến hệ thống đánh giá năng lực, thay vì chỉ sử dụng một tiêu chuẩn giản đơn như điểm thi hay tiền bạc. Cần hình thành một cách thức đánh giá năng lực cởi mở và toàn diện hơn cho xã hội.
3. Mô hình tâm lý thần kinh
Theo mô hình này thì chứng nghiện Internet liên quan trực tiếp đến các vấn đề về tâm lý và thần kinh. Cụ thể, động cơ nguyên thủy của con người là tìm kiếm hạnh phúc, khoái cảm và lảng tránh khổ đau. Động cơ nguyên thủy này có thể cùng với các động cơ phối kết khác, như mong muốn khẳng định mình, là một trong các thôi thúc người ta bước vào sử dụng Internet.
Khi sử dụng Internet thì hệ thần kinh được kích thích và người dùng có trải nghiệm khoái cảm. Nhưng khi nghiện, khoái cảm này sẽ trơ dần, dẫn đến thôi thúc tái sử dụng ở mức độ cao hơn. Dần dà, điều này gây ra cảm giác “vật vã” khi không được sử dụng Internet, với những biểu hiện cụ thể như: bồn chồn, mất ngủ, cảm xúc bất ổn định, dễ bực bội, cáu kỉnh... Những điều này sẽ tích tụ và chuyển thành các phản ứng tiêu cực của người nghiện Internet như nhận thức sai lệch, dữ tợn, thù nghịch, đổ lỗi...
Và để giải tỏa các phản ứng tiêu cực này cũng như hệ lụy của nó mang lại, người ta lại tăng cường sử dụng Internet để trốn tránh, để tìm lại cảm giác thỏa mãn, để xác lập giá trị của mình trong thế giới ảo. Vòng xoáy cứ như vậy tiếp tục làm người nghiện ngày càng khó bứt ra khỏi thế giới mạng.
Bạn có nghiện Internet không?
Sau khi đã đọc hết những nội dung trên thì đây là câu hỏi mà bạn phải đối diện một cách trung thực: bạn có nghiện Internet không?
Nếu có đầy đủ các biểu hiện sau thì bạn có thể bị coi là đã nghiện Internet:
1) Lạm dụng: thường gắn kèm với việc mất cảm thức về thời gian, thậm chí quên cả nhu cầu cơ bản như ăn, uống, vệ sinh…
2) Biểu hiện “vật vã”, như giận dữ, căng thẳng, thậm chí trầm cảm khi không được sử dụng Internet.
3) Mức độ sử dụng tăng, biểu hiện qua tăng thời gian dùng Internet, nhu cầu về máy tính mạnh hơn, cần phần mềm nhiều tính năng hơn.
4) Hậu quả tiêu cực như tranh cãi, nói dối, thành tích học tập/làm việc kém, tách rời xã hội, mệt mỏi thường xuyên…
Thay lời kết
Đến nay tuy chưa có một thống nhất chính xác giữa các nhà nghiên cứu về chứng nghiện Internet, nhưng những hậu quả của việc lạm dụng Internet đến sức khỏe sinh học và tâm thần, năng suất lao động, chất lượng công việc, cuộc sống gia đình, quan hệ xã hội… là có thực. Nhiều quốc gia đã hiển nhiên thừa nhận hội chứng nghiện Internet là một trong những nguy cơ tàn phá sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là với giới trẻ.
Vì thế hãy sử dụng Internet một cách thông minh để nâng cao năng suất làm việc và chất lượng cuộc sống, thay vì bị nó nuốt chửng và tàn phá cuộc đời bạn.
GIÁP VĂN DƯƠNG
___________
(1): Internet addiction disorder
(2): Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders
(3): Issues for DSM-V: Internet Addiction. Am. J. Psychiatry 165:3, March 2008
(4): Game online
(5): Ahn DH: Korean policy on treatment and rehabilitation for adolescents’ Internet addiction, in 2007 International Symposium on the Counseling and Treatment of Youth Internet Addiction. Seoul, Korea, National Youth Commission, 2007, p 49.
(6): Kimberly S. Young, Cristiano Nabuco de Abreu, Internet Addiction: A Handbook and Guide to Evaluation and Treatment, JohnWiley & Sons, Inc. 2010.
(7): http://www.thongkeInternet.vn
(8): Kimberly S. Young, Cristiano Nabuco de Abreu, A Handbook and Guide to Evaluation and Treatment, JohnWiley & Sons, Inc. 2011.
-----
Bài đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần.
Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013
Về “Thằng Mõ 1”
Hôm nay các báo đồng loạt đưa tin Album “Thằng Mõ 1” của Ngọc Đại sẽ bị thu hồi và tiêu hủy. Tôi tò mò quá, sao thời nay còn có chuyện thu hồi và tiêu hủy album, chắc hẳn nội dung phải có gì cực kỳ khác thường, nên vào mạng tìm nghe thử xem sao. Úi chà chà, quả thật là bất thường. Có lúc bật cười, có khi sởn gai ốc…
Nếu Ngọc Đại nhờ một ca sĩ nào đó biểu diễn, như Aerosmith chẳng hạn (giả thiết ông này biết tiếng Việt), thay vì tự biên tự diễn, thì hiệu ứng còn mạnh nữa.
Nhận xét gì ư? Nếu nói một cách hình ảnh thì sẽ như sau:
1. Đây là thứ âm nhạc đến từ địa ngục, nhưng, nó lại ăn khớp một cách kỳ lạ với những hiện hữu trong xã hội này.
2. Ngọc Đại thả ra cả tiếng trẻ thơ, tiếng chửi của Chí Phèo, tiếng thút thít trong đêm của người đàn bà và tiếng rên rỉ của gã hủi đang nhìn da thịt mình thối rữa từng ngày.
Lảng vảng đây đó là tiếng gầm ghè hú hét của loài quỷ dữ.
Câu hỏi: Nếu các dòng phim kinh dị đã được chấp nhận cho trình chiếu, thì vì sao album này lại phải thu hồi? Có phải vì đó là sự kết hợp giữa dòng phim kinh dị và pornography, và tất nhiên là cả những metaphor đầy chủ ý?
Khoan hãy nói ý định của Ngọc Đại là gì, tôi cho rằng ông đã đạt được ý định của mình khi làm album này, nên việc thu hồi và tiêu hủy album là điều vô nghĩa.
Không chiếc hồ lô nào có thể thu lại những âm thanh đã được phát ra, dù đó là âm thanh của thiên thần hay quỷ dữ.
P/S : Album này không dành cho người bị bệnh tim và trẻ em dưới 18 tuổi.
---
Bổ sung: Nếu nghe hơn một lần thì sẽ thấy, ngòai chuyện ca từ gây tranh cãi và các ám dụ rất đáng lưu tâm thì về mặt âm nhạc, album này là một sự láy lại, có nhấn nhá và được trang trí bằng sắc màu có nét hoang dại hơn, nhưng không đi xa hơn so với âm nhạc trước đó của Ngọc Đại bao nhiêu.
---
Bổ sung: Nếu nghe hơn một lần thì sẽ thấy, ngòai chuyện ca từ gây tranh cãi và các ám dụ rất đáng lưu tâm thì về mặt âm nhạc, album này là một sự láy lại, có nhấn nhá và được trang trí bằng sắc màu có nét hoang dại hơn, nhưng không đi xa hơn so với âm nhạc trước đó của Ngọc Đại bao nhiêu.
Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013
Hội tụ nguyên khí, khai phóng sáng tạo
Giáp Văn Dương
Tôi ít khi đọc các băng-rôn khẩu hiệu ven đường, vì phần lớn nội dung của nó lặp đi lặp lại từ năm này sang năm khác; và vì mật độ quá dày, nếu đọc sẽ có nguy cơ gây tai nạn khi đi đường. Nhưng ngày 23.11.2012 vừa rồi, khi đang đi trên đường phố Sài Gòn, tôi giật mình khi thấy một băng-rôn có dòng chữ hoàn toàn mới lạ: “Lương sư hưng quốc”.
“Khoảnh khắc Hạ Long”. Ảnh: Nguyễn Phụng Chí
1. Thì ra vậy! Nhận định “giáo dục là chìa khóa của phát triển” không phải là vấn đề gì mới mẻ, mà đã được người xưa nhắc đến từ lâu rồi. Tìm hiểu thêm, tôi được biết đó là lời của Gia Định xử sĩ Võ Trường Toản nói cách đây hơn 200 năm. Quả thật rất đáng suy ngẫm: Cách đây hơn hai trăm năm, những vấn đề chúng ta đang bàn thảo hiện giờ, như nhà giáo và vai trò của giáo dục, đã được bàn thảo đến và tìm được câu trả lời.
Nhìn lại lịch sử xa hơn, cách đây hơn 500 năm, thấy trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên dựng tại Quốc Tử Giám (1484) có khắc câu nói nổi tiếng của Thân Nhân Trung (1419-1499): "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Như vậy, bên cạnh việc giáo dục thì vấn đề trọng dụng hiền tài cũng đã được cha ông ta bàn thảo khá rốt ráo. Hiền tài đã được định danh là “nguyên khí quốc gia” – một nhận định không thể chính xác và súc tích hơn.
Phương Đông coi khí là nguồn gốc của sự sống: Khí tụ thì sinh, khí tán thì diệt. Chắc hẳn Thân Nhân Trung đã biết rõ điều này. Do đó, trong trường hợp này, có thể hiểu, hiền tài là nguồn gốc sự phát triển của đất nước.
Ngày nay, dù ở bất cứ nơi đâu, có nguồn gốc lịch sử, văn hóa ra sao, thì các nước muốn phát triển đều phải dựa vào hiền tài, và đều phải chú trọng giáo dục. Chẳng hạn, nước láng giềng Singapore, đã coi trọng dụng hiền tài, cùng với trung thực và thực tế, là những nguyên tắc trụ cột để phát triển đất nước. Giáo dục cũng đã được thừa nhận rộng rãi như là chìa khóa của phát triền bền vững. Ở châu Á, sự thành công của các tấm gương khác như Nhật Bản, Hàn Quốc,... – những nước dành đầu tư xứng đáng cho giáo dục - sau Thế chiến thứ II, đã thêm một lần nữa khẳng định cho thực tế này.
Vậy mà kỳ lạ thay, ngày nay chúng ta vẫn còn loay hoay bàn thảo những vấn đề mà cha ông ta đã đưa ra câu trả lời đích đáng từ hơn 500 năm về trước? Vì sao việc phát triển giáo dục và trọng dụng hiền tài đã không được thực hiện có hiệu quả? Chỉ có thể trả lời rằng: Lỗi này trước hết thuộc về những người có trách nhiệm trong hệ thống quản lý, khi đã chưa tạo ra được một cơ chế và môi trường đủ tốt để đủ thu hút hiền tài. Bên cạnh đó, hiền tài đất Việt – nguồn nguyên khí quốc gia – cũng chưa làm tròn được trách nhiệm của mình đối với đất nước. Bằng chứng là số người có bằng cấp, học hàm học vị cao ngày càng nhiều, nhưng đóng góp của người Việt vào kho tàng tri thức và văn minh nhân loại còn rất hạn chế. Số lượng các phát minh, sáng chế, các bài báo khoa học của Việt Nam, một đất nước gần 90 triệu dân, còn thua hàng chục lần so với mức chung của khu vực. Chẳng hạn, tổng số bằng sáng chế của Việt Nam từ xưa đến năm 2011, đăng ký tại Mỹ, là 16. Trong khi với Singapore, mới lập quốc được 47 năm với dân số hiện tại khoảng 5 triệu người (kể cả người nước ngoài), thì đến năm 2011 họ đã có tổng số 6288 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ (1).
2. Quan sát trẻ em người Việt Nam ở nước ngoài, tôi thấy ở bất cứ nơi đâu, các học sinh gốc Việt đều đạt những thành tích đáng nể. Khảo sát sơ bộ các gia đình bạn bè và những người quen biết đang sống ở nước ngoài, tôi được biết con em thường đều nằm trong nhóm dẫn đầu của lớp. Đó là lý do vì sao người Việt luôn được đánh giá là thông minh, tiếp thu nhanh, ham học. Điều đó cho thấy, tố chất của người Việt không tồi. Chỉ cần gặp môi trường thuận lợi, tố chất này sẽ bung ra và bồi đắp thành những tài năng trong đủ mọi lĩnh vực. Nhưng nghịch lý thay, xét trên bình diện cả dân tộc, thì Việt Nam lại bị xếp vào nước có chỉ số sáng tạo thấp. Theo đánh giá của tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), năm 2012, trong bảng xếp hạng chỉ số sáng tạo toàn cầu, Việt Nam xếp hạng 76 trong số 141 nước tham gia đánh giá (2).
Điều này có nguyên nhân chắc hẳn không phải từ các cá nhân người Việt, mà từ cả hệ thống, cơ chế. Nói cách khác, hệ thống, cơ chế, tổ chức ở Việt Nam đã chưa thể trọng dụng hiền tài và tạo điều kiện để sáng tạo có thể phát triển. Đó là lý do vì sao những câu chuyện cũ về giáo dục, về trọng dụng hiền tài, về nguyên khí quốc gia cứ lặp đi lặp lại hết thế hệ này đến thế hệ khác. Như thế, trọng tâm của câu chuyện về nguyên khí Việt không phải là có hay không, mà là tụ hay tán. Câu chuyện về trọng dụng hiền tài vì thế phải được đặt ra trước câu chuyện về đào tạo hiền tài. Vì nếu được trọng dụng thì hiền tài sẽ tự sinh sôi nảy nở, tự đào tạo mà thành. Còn nếu không được trọng dụng thì dù có bao nhiêu tài năng trong tay đi nữa thì cũng thành vô dụng.
Theo quan niệm của người xưa, nếu nguyên khí tụ thì đất nước đã phát triển. Nhưng tình trạng hiện thời của Việt Nam cho thấy, nguyên khí Việt đang bị hao tán khắp nơi mà chưa có cách nào để tụ họp nhằm kiến tạo một công cuộc phát triển mới.
Nhu cầu phát triển của Việt Nam đang đòi hỏi một sự hợp sức của mọi nguồn lực quốc gia, trong đó sự họp tụ của hiền tài là quan trọng nhất. Những tài năng của Việt Nam đang rải rác khắp nơi. Nguyên khí Việt đang bị tản mác. Dù được hô hào nhiều, nhưng thực hiện chưa được bao nhiêu, nên nguyên khí Việt vẫn chưa hội tụ.
3. Ngày 23 tháng 11 năm 2012, khi tham gia ngày hội “Sáng tạo vì khát vọng Việt” ở TPHCM, tôi lại thêm một lần nữa thấy rõ ràng rằng, Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn trong công cuộc phát triển và cạnh tranh toàn cầu. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là tài nguyên, hàng gia công hoặc hàng thô, có giá trị gia tăng thấp. Nền kinh tế đã không vận hành theo hướng phát triển bền vững, mà chỉ chú trọng vào việc đầu cơ chụp giật. Các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp khó khăn mọi bề, dẫn đến việc đã và sẽ tiếp tục phá sản hàng loạt, đời sống người lao động khó khăn, tạo thêm nhiều hệ lụy xấu cho toàn xã hội.
Trước bối cảnh đó, việc tụt hậu và rơi vào nghèo khó là một nguy cơ lừng lững trước mắt. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân chính là tiềm năng sáng tạo của người Việt đã không được giải phóng. Tài năng Việt chưa được trọng dụng tối đa để khởi nguồn cho sự phát triển mới. Nguyên khí Việt đã chưa thể hội tụ để tạo ra những dòng sinh khí mới cho đất nước.
Để cải thiện tình trạng này, việc cần làm trước hết là cần thẳng tay gạt bỏ những cản trở của công cuộc tụ họp này. Do đã trải qua một cuộc chiến dài và khốc liệt, di chứng chiến tranh, những vết thương tâm lý của người Việt vẫn chưa thực sự lành lặn, gây khó khăn cho việc tụ hội Nam – Bắc, trong – ngoài. Đây là những cản trở đến từ lịch sử, tuy vô hình nhưng có sức tàn phá ghê gớm. Vì thế, một cuộc hòa giải thành tâm giữa những người, những thế hệ một thời ở hai đầu chiến tuyến, để thống nhất lòng người về một mối nhằm kiến tạo một sự phát triển mới, bỗng trở thành cần thiết hơn bao giờ hết. Để có được hiệu quả, việc hòa giải này cần được tiến hành ở mức quốc gia, xuất phát từ những người có trách nhiệm cao nhất đối với đất nước. Khó thì cũng rất khó, mà dễ thì cũng rất dễ, vì giá của nó chỉ là sự thành tâm và bao dung của cả hai phía. Cùng một bọc trăm trứng, do một mẹ sinh ra, lẽ nào không thể thực hiện được?
4. Sau khi đã thực hiện được việc hòa giải hòa hợp dân tộc, thống nhất nhân tâm vì mục tiêu phát triển đất nước, điều cần làm là phải tạo dựng được một môi trường thuận lợi để sức sáng tạo của người Việt được giải phóng. Do sự khiếm khuyết mang tính bản chất về tri thức của mỗi cá nhân riêng biệt, nên một sự huy động trí tuệ toàn dân để phát triển đất nước là điều bắt buộc phải làm.
Muốn vậy, phải xây dựng được một môi trường văn hóa và làm việc dân chủ, pháp quyền. Dù đã được chính thức nói đến nhiều lần, nhưng dân chủ - pháp quyền vẫn chưa phát huy hết hiệu quả. Một sự thực hiện thực tâm và quyết liệt, dù đau đớn vì phải vượt qua những thói quen và lợi ích cũ, là không thể tránh khỏi để cải thiện tình hình.
Ngoài ra, Việt Nam là một bộ phận của thế giới. Mỗi hơi thở, mỗi nhịp đi của thế giới bên ngoài đều có ảnh hưởng tức thì đến Việt Nam. Dòng nguyên khí Việt chỉ phát huy tối đa tác dụng khi hội nhập được với dòng nguyên khí của thời đại. Vì thế, những cải cách căn cơ để Việt Nam hoàn toàn hội nhập với quốc tế, không chỉ trên lời nói mà còn trên việc làm, cũng cần được được triển khai, tạo môi trường rộng lớn cho dòng nguyên khí Việt luân chuyển và phát huy sức sáng tạo.
5. Nguyên khí Việt đang bị hao tán khắp nơi. Đó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm phát triển của đất nước. Vì thế, nhu cầu hội tụ hiền tài – nguyên khí quốc gia – đang trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết. Thực tế này đòi hỏi những người có trách nhiệm cao nhất với đất nước cần phải hành động mạnh mẽ và có trách nhiệm hơn nữa. Những người lãnh đạo đất nước cần phải thành tâm và gương mẫu khơi dậy một khát vọng Việt Nam đủ lớn, đủ mạnh, đủ hấp dẫn để thu hút các dòng nguyên khí Việt đang tản mác khắp nơi tụ về một mối. Các kênh lưu chuyển cũng cần được khai thông. Môi trường làm việc và cơ chế đãi ngộ cũng cần được cải cách. Tất cả đều vì lợi ích quốc gia, vì sự phát triển của dân tộc, vì khát vọng một Việt Nam tỏa sáng.
"Lương sư hưng quốc". "Hiền tài là nguyên khí quốc gia". "Khí tụ thì sinh, khí tán thì diệt". Những nhắc nhở từ muôn năm cũ bỗng chốc dội về trong thời khắc giao mùa này. Đã đến lúc cần phải quyết tâm hội tụ nguyên khí Việt, chậm còn hơn không, vì tình thế đã khẩn trương và đất nước không có đường lùi.
(1) United States Patent and Trademark Office, Patents By Country, State, and Year - All Patent Types, Granted: 01.01.1977 - 12.31.2011.
(2) The Global Innovation Index 2012, WIPO.
Nhìn lại lịch sử xa hơn, cách đây hơn 500 năm, thấy trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên dựng tại Quốc Tử Giám (1484) có khắc câu nói nổi tiếng của Thân Nhân Trung (1419-1499): "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Như vậy, bên cạnh việc giáo dục thì vấn đề trọng dụng hiền tài cũng đã được cha ông ta bàn thảo khá rốt ráo. Hiền tài đã được định danh là “nguyên khí quốc gia” – một nhận định không thể chính xác và súc tích hơn.
Phương Đông coi khí là nguồn gốc của sự sống: Khí tụ thì sinh, khí tán thì diệt. Chắc hẳn Thân Nhân Trung đã biết rõ điều này. Do đó, trong trường hợp này, có thể hiểu, hiền tài là nguồn gốc sự phát triển của đất nước.
Ngày nay, dù ở bất cứ nơi đâu, có nguồn gốc lịch sử, văn hóa ra sao, thì các nước muốn phát triển đều phải dựa vào hiền tài, và đều phải chú trọng giáo dục. Chẳng hạn, nước láng giềng Singapore, đã coi trọng dụng hiền tài, cùng với trung thực và thực tế, là những nguyên tắc trụ cột để phát triển đất nước. Giáo dục cũng đã được thừa nhận rộng rãi như là chìa khóa của phát triền bền vững. Ở châu Á, sự thành công của các tấm gương khác như Nhật Bản, Hàn Quốc,... – những nước dành đầu tư xứng đáng cho giáo dục - sau Thế chiến thứ II, đã thêm một lần nữa khẳng định cho thực tế này.
Vậy mà kỳ lạ thay, ngày nay chúng ta vẫn còn loay hoay bàn thảo những vấn đề mà cha ông ta đã đưa ra câu trả lời đích đáng từ hơn 500 năm về trước? Vì sao việc phát triển giáo dục và trọng dụng hiền tài đã không được thực hiện có hiệu quả? Chỉ có thể trả lời rằng: Lỗi này trước hết thuộc về những người có trách nhiệm trong hệ thống quản lý, khi đã chưa tạo ra được một cơ chế và môi trường đủ tốt để đủ thu hút hiền tài. Bên cạnh đó, hiền tài đất Việt – nguồn nguyên khí quốc gia – cũng chưa làm tròn được trách nhiệm của mình đối với đất nước. Bằng chứng là số người có bằng cấp, học hàm học vị cao ngày càng nhiều, nhưng đóng góp của người Việt vào kho tàng tri thức và văn minh nhân loại còn rất hạn chế. Số lượng các phát minh, sáng chế, các bài báo khoa học của Việt Nam, một đất nước gần 90 triệu dân, còn thua hàng chục lần so với mức chung của khu vực. Chẳng hạn, tổng số bằng sáng chế của Việt Nam từ xưa đến năm 2011, đăng ký tại Mỹ, là 16. Trong khi với Singapore, mới lập quốc được 47 năm với dân số hiện tại khoảng 5 triệu người (kể cả người nước ngoài), thì đến năm 2011 họ đã có tổng số 6288 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ (1).
2. Quan sát trẻ em người Việt Nam ở nước ngoài, tôi thấy ở bất cứ nơi đâu, các học sinh gốc Việt đều đạt những thành tích đáng nể. Khảo sát sơ bộ các gia đình bạn bè và những người quen biết đang sống ở nước ngoài, tôi được biết con em thường đều nằm trong nhóm dẫn đầu của lớp. Đó là lý do vì sao người Việt luôn được đánh giá là thông minh, tiếp thu nhanh, ham học. Điều đó cho thấy, tố chất của người Việt không tồi. Chỉ cần gặp môi trường thuận lợi, tố chất này sẽ bung ra và bồi đắp thành những tài năng trong đủ mọi lĩnh vực. Nhưng nghịch lý thay, xét trên bình diện cả dân tộc, thì Việt Nam lại bị xếp vào nước có chỉ số sáng tạo thấp. Theo đánh giá của tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), năm 2012, trong bảng xếp hạng chỉ số sáng tạo toàn cầu, Việt Nam xếp hạng 76 trong số 141 nước tham gia đánh giá (2).
Điều này có nguyên nhân chắc hẳn không phải từ các cá nhân người Việt, mà từ cả hệ thống, cơ chế. Nói cách khác, hệ thống, cơ chế, tổ chức ở Việt Nam đã chưa thể trọng dụng hiền tài và tạo điều kiện để sáng tạo có thể phát triển. Đó là lý do vì sao những câu chuyện cũ về giáo dục, về trọng dụng hiền tài, về nguyên khí quốc gia cứ lặp đi lặp lại hết thế hệ này đến thế hệ khác. Như thế, trọng tâm của câu chuyện về nguyên khí Việt không phải là có hay không, mà là tụ hay tán. Câu chuyện về trọng dụng hiền tài vì thế phải được đặt ra trước câu chuyện về đào tạo hiền tài. Vì nếu được trọng dụng thì hiền tài sẽ tự sinh sôi nảy nở, tự đào tạo mà thành. Còn nếu không được trọng dụng thì dù có bao nhiêu tài năng trong tay đi nữa thì cũng thành vô dụng.
Theo quan niệm của người xưa, nếu nguyên khí tụ thì đất nước đã phát triển. Nhưng tình trạng hiện thời của Việt Nam cho thấy, nguyên khí Việt đang bị hao tán khắp nơi mà chưa có cách nào để tụ họp nhằm kiến tạo một công cuộc phát triển mới.
Nhu cầu phát triển của Việt Nam đang đòi hỏi một sự hợp sức của mọi nguồn lực quốc gia, trong đó sự họp tụ của hiền tài là quan trọng nhất. Những tài năng của Việt Nam đang rải rác khắp nơi. Nguyên khí Việt đang bị tản mác. Dù được hô hào nhiều, nhưng thực hiện chưa được bao nhiêu, nên nguyên khí Việt vẫn chưa hội tụ.
3. Ngày 23 tháng 11 năm 2012, khi tham gia ngày hội “Sáng tạo vì khát vọng Việt” ở TPHCM, tôi lại thêm một lần nữa thấy rõ ràng rằng, Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn trong công cuộc phát triển và cạnh tranh toàn cầu. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là tài nguyên, hàng gia công hoặc hàng thô, có giá trị gia tăng thấp. Nền kinh tế đã không vận hành theo hướng phát triển bền vững, mà chỉ chú trọng vào việc đầu cơ chụp giật. Các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp khó khăn mọi bề, dẫn đến việc đã và sẽ tiếp tục phá sản hàng loạt, đời sống người lao động khó khăn, tạo thêm nhiều hệ lụy xấu cho toàn xã hội.
Trước bối cảnh đó, việc tụt hậu và rơi vào nghèo khó là một nguy cơ lừng lững trước mắt. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân chính là tiềm năng sáng tạo của người Việt đã không được giải phóng. Tài năng Việt chưa được trọng dụng tối đa để khởi nguồn cho sự phát triển mới. Nguyên khí Việt đã chưa thể hội tụ để tạo ra những dòng sinh khí mới cho đất nước.
Để cải thiện tình trạng này, việc cần làm trước hết là cần thẳng tay gạt bỏ những cản trở của công cuộc tụ họp này. Do đã trải qua một cuộc chiến dài và khốc liệt, di chứng chiến tranh, những vết thương tâm lý của người Việt vẫn chưa thực sự lành lặn, gây khó khăn cho việc tụ hội Nam – Bắc, trong – ngoài. Đây là những cản trở đến từ lịch sử, tuy vô hình nhưng có sức tàn phá ghê gớm. Vì thế, một cuộc hòa giải thành tâm giữa những người, những thế hệ một thời ở hai đầu chiến tuyến, để thống nhất lòng người về một mối nhằm kiến tạo một sự phát triển mới, bỗng trở thành cần thiết hơn bao giờ hết. Để có được hiệu quả, việc hòa giải này cần được tiến hành ở mức quốc gia, xuất phát từ những người có trách nhiệm cao nhất đối với đất nước. Khó thì cũng rất khó, mà dễ thì cũng rất dễ, vì giá của nó chỉ là sự thành tâm và bao dung của cả hai phía. Cùng một bọc trăm trứng, do một mẹ sinh ra, lẽ nào không thể thực hiện được?
4. Sau khi đã thực hiện được việc hòa giải hòa hợp dân tộc, thống nhất nhân tâm vì mục tiêu phát triển đất nước, điều cần làm là phải tạo dựng được một môi trường thuận lợi để sức sáng tạo của người Việt được giải phóng. Do sự khiếm khuyết mang tính bản chất về tri thức của mỗi cá nhân riêng biệt, nên một sự huy động trí tuệ toàn dân để phát triển đất nước là điều bắt buộc phải làm.
Muốn vậy, phải xây dựng được một môi trường văn hóa và làm việc dân chủ, pháp quyền. Dù đã được chính thức nói đến nhiều lần, nhưng dân chủ - pháp quyền vẫn chưa phát huy hết hiệu quả. Một sự thực hiện thực tâm và quyết liệt, dù đau đớn vì phải vượt qua những thói quen và lợi ích cũ, là không thể tránh khỏi để cải thiện tình hình.
Ngoài ra, Việt Nam là một bộ phận của thế giới. Mỗi hơi thở, mỗi nhịp đi của thế giới bên ngoài đều có ảnh hưởng tức thì đến Việt Nam. Dòng nguyên khí Việt chỉ phát huy tối đa tác dụng khi hội nhập được với dòng nguyên khí của thời đại. Vì thế, những cải cách căn cơ để Việt Nam hoàn toàn hội nhập với quốc tế, không chỉ trên lời nói mà còn trên việc làm, cũng cần được được triển khai, tạo môi trường rộng lớn cho dòng nguyên khí Việt luân chuyển và phát huy sức sáng tạo.
5. Nguyên khí Việt đang bị hao tán khắp nơi. Đó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm phát triển của đất nước. Vì thế, nhu cầu hội tụ hiền tài – nguyên khí quốc gia – đang trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết. Thực tế này đòi hỏi những người có trách nhiệm cao nhất với đất nước cần phải hành động mạnh mẽ và có trách nhiệm hơn nữa. Những người lãnh đạo đất nước cần phải thành tâm và gương mẫu khơi dậy một khát vọng Việt Nam đủ lớn, đủ mạnh, đủ hấp dẫn để thu hút các dòng nguyên khí Việt đang tản mác khắp nơi tụ về một mối. Các kênh lưu chuyển cũng cần được khai thông. Môi trường làm việc và cơ chế đãi ngộ cũng cần được cải cách. Tất cả đều vì lợi ích quốc gia, vì sự phát triển của dân tộc, vì khát vọng một Việt Nam tỏa sáng.
"Lương sư hưng quốc". "Hiền tài là nguyên khí quốc gia". "Khí tụ thì sinh, khí tán thì diệt". Những nhắc nhở từ muôn năm cũ bỗng chốc dội về trong thời khắc giao mùa này. Đã đến lúc cần phải quyết tâm hội tụ nguyên khí Việt, chậm còn hơn không, vì tình thế đã khẩn trương và đất nước không có đường lùi.
(1) United States Patent and Trademark Office, Patents By Country, State, and Year - All Patent Types, Granted: 01.01.1977 - 12.31.2011.
(2) The Global Innovation Index 2012, WIPO.
---
Ghi chú: Bài trên Lao Động số Xuân 2013 có tiêu đề: Hội tụ nguyên khí, giải phóng sức sáng tạo.
Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013
Sự tùy tiện đã thành bản sắc?
Giáp Văn Dương
1. Một ngày mùa hè, chúng tôi đón một gia đình người bạn sang du lịch ở Singapore. Mà đã đi du lịch thì không thể tránh khỏi chuyện thăm thú cảnh quan, vào trung tâm mua sắm và ăn uống. Mọi chuyện đều tuyệt vời, nếu không có một câu chuyện lẻ như sau:
Khi vào khu ăn uống sầm uất, chúng tôi đưa con gái nhỏ đi rửa tay và vệ sinh, đồng thời rủ gia đình bạn tôi đi cùng. Âu cũng là một cách chỉ cho bạn vị trí của khu vệ sinh. Bạn tôi hồn nhiên bảo không cần. Chúng tôi tất nhiên tôn trọng lựa chọn của bạn.
Mười lăm phút sau, giữa khu ăn uống, con trai bạn tôi, khoảng 3 tuổi, thông báo muốn...“tè”. Vợ tôi cuống quýt giục bạn cho cháu đi vệ sinh và chỉ đường ra toilet. Nhưng bạn tôi khăng khăng bảo không cần vì đã chuẩn bị sẵn rồi. Rồi hai vợ chồng lục tối lấy chai nước La Vie đã uống hết cho cháu “tè” vào trước sự sửng sốt của bao người.
Vì còn nhỏ nên cháu điều khiển không được như ý. Sản phẩm rót vào miệng chai thì ít mà ra sàn nhà thì nhiều, thậm chí còn bắn vào chân thực khách bàn bên cạnh làm một vài người co rúm, chỉ thiếu nước hét lên. Sự sửng sốt còn được nhân lên khi một số người bắt đầu bàn tán và chỉ trỏ về phía khu vệ sinh của tòa nhà, cách đó chỉ chừng 20m.
Chúng tôi tất nhiên là cũng sửng sốt, nhưng hơn cả là sự ngượng ngùng, vì tất cả chúng tôi đều đang nói tiếng Việt.
Tôi bắt đầu suy nghĩ về một cái gì đó mang tên Văn hóa Việt.
2. Sáu tháng sau, một ngày đầu xuân, gia đình tôi đến thăm Văn Miếu. Trước khi đi, tôi giải thích cho con rằng đây là chốn thiêng liêng, là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam, xây dựng cách đây gần một nghìn năm. Các đại học danh tiếng như Oxford,Cambridge cũng chỉ có lịch sử lâu đời như thế. Các gia đình muốn con ngoan học giỏi, trọng chữ nghĩa, sống có văn hóa thì đầu năm thường đưa con đến Văn Miếu thăm viếng và xin chữ. Tất nhiên là cháu rất thích, rất tò mò và hãnh diện.
Chúng tôi đến nơi vào khoảng giữa trưa. Sau khi mua vé, chúng tôi tiến vào lối đi cổng chính. Tôi vừa đi vừa giải thích cho con về kiến trúc, cảnh quan và trang trí đầu xuân, vừa tránh những người đi ngược chiều. Nhưng sự giải thích của tôi gần như không có hiệu quả, vì cháu chỉ dán mắt vào những người nhảy qua hàng rào để tạo dáng chụp ảnh quanh các bồn cây, các chữ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín... được xếp bằng hoa.
Chúng tôi đi sát mép hành lang để tránh va quệt vào du khách. Tôi nhắc cháu cẩn thận kẻo dẫm chân lên cỏ. Thật bất ngờ, cháu chỉ vào sân cỏ và phản ứng ngược: Làm gì có cỏ hả bố. Người ta dẫm chết hết rồi!
Tôi sững người. Trẻ con tin vào những gì chúng quan sát, chứ không tin bảng hiệu và những thuyết giảng suông.
Tôi lại nghĩ về một cái gì đó mang tên Văn hóa Việt.
Chúng tôi tiến vào sân Văn Miếu. Quá đông người. Ở đây không còn cảnh nhảy rào tạo dáng chụp ảnh như bên ngoài nữa. Thay vào đó là hàng người vào ra thắp hương ở điện chính và đặc biệt là một hàng dài rồng rắn xếp hàng xin chữ đầu năm. Kín cả một góc sân, kẻ đứng người ngồi hong chữ. Người hờ hững trải chữ trên sân, người lại cẩn thận giữ chặt trong tay, phòng hờ gió thổi bay đi mất. Cũng có người nhao nhác chờ đợi, nhìn nhướng vào trong xem người nhà mình xin chữ đã ra chưa. Trên gương mặt lộ rõ sự căng thẳng.
Không có sự hoan hỉ. Không có niềm vui phơi phới xuân về. Thay vào đó là một cái gì đó như cam chịu, như chờ đợi.
Ở góc sân phái trái là hai hàng kem di động. Kẻ đứng người ngồi huyên náo. Có tiếng quát trẻ con, tiếng gọi nhau í ới và lời than mỏi.
Ngay giữa sân có ba bố con nhà nọ đang phơi chữ. Mỏi chân, ông bố ngồi chồm hổm. Chữ đã khô nên không có gì phải vội. Dường như ba bố con đang chờ mẹ và cậu trai lớn đang xin thêm chữ sắp ra.
Một cơn gió nhẹ hiu hiu thổi tới. Cậu trai bất giác vạch chim “tè” giữa sân Văn Miếu. Ông bố đang căng thẳng vì chờ đợi, bỗng mặt giãn ra, cười sảng khoái.
Tịnh không có một lời nhắc nhở.
Sau rất nhiều giải thích cho trẻ nhỏ, chuyến đi thăm Văn Miếu của chúng tôi đã không có được kết quả như mong đợi. Trên đường trở về, tôi bắt đầu nghĩ đến một thứ có tên là “Sự tùy tiện”.
3. Chúng tôi đi trên vỉa hè và những con phố nhỏ của Hà Nội. Các bức tường dày đặc các số điện thoại khoan cắt bê-tông. Tôi biết, nếu đi tiếp đến những góc phố vắng, thế nào cũng gặp những dòng “Cam Dai Bay” nguệch ngoặc chảy dài trên các bức tường. Những chữ này đang là nỗi xấu hổ của người Việt và đã đi vào giai thoại tiếu lâm.
Tiếu lâm, mà sao nghe qua chỉ thấy đắng chát.
Tôi bắt đầu xâu chuỗi những gì đã thấy: một em bé được gia đình cho hồn nhiên “tè” vào chai giữa nơi đô hội trong chuyến du lịch nước ngoài, một em bé khác “tè” giữa sân Văn Miếu trong một ngày xuân mới, rất nhiều khoan cắt bê-tông và “Cam Dai Bay” trên các bức tường. Có cái gì đó rất chung ở đây. Có cái gì đó rất Việt Nam, rất phổ biến đến mức đã trở thành một thứ tựa như là văn hóa.
Tôi lẩm nhẩm gọi tên: Sự tùy tiện.
4. Sự tùy tiện có ở khắp mọi nơi. Nó không còn là của văn hóa và thẩm mỹ, mà còn là chuyện quốc kế dân sinh và tính mạng của người dân.
Ngày 24/2/2012 vừa rồi, đã xảy ra một vụ nổ tại hẻm 384 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (P.8, Q.3, TP.HCM) làm chết 11 người. Đây là một tai nạn tang thương, lại rơi vào đầu năm, nên ai cũng xót xa bàng hoàng. Tai nạn này lẽ ra đã không xảy ra nếu không có sự tùy tiện. Ở đây là tùy tiện mang vật liệu nổ vào cất trữ trong nhà mà không tuân thủ các quy tắc an toàn. Hàng loạt các vụ nổ trước đó do sang chiết ga không đúng quy trình, không đúng địa điểm, cũng có cùng nguyên nhân ở sự tùy tiện.
Ngoài ra, ước tính mỗi ngày có khoảng 100 người chết do tai nạn, trong ắt hẳn có một phần lớn do sự tùy tiện mà ra.
Ở tầm mức quốc gia, sự tùy tiện cũng xuất hiện ở bất cứ chỗ nào mà ta để mắt đến. Rất nhiều chiến lược phát triển đất nước, từ kinh tế như hình thành các tổng công ty - tập đoàn, khai thác tài nguyên, quy hoạch đô thị; đến văn hóa, giáo dục như đào tạo hàng chục ngàn tiến sĩ trong vài năm, thay đổi chương trình, sách giáo khoa liên tục; đến quản lý điều hành như cấm rồi bỏ, ra chỉ thị nghị quyết tréo ngheo... cũng đều là sản phẩm của sự tùy tiện.
Sự kiện dự án khai thác bô-xit Tây Nguyên được triển khai bất chấp phản đối và cảnh báo của giới chuyên gia, dẫn đến gặp khó khăn và phải dừng cảng Kê Gà – cảng được đầu tư để phục vụ dự án này – đang làm nóng dư luận trong suốt tuần qua cũng có nguyên nhân ở sự tùy tiện trong các chính sách phát triển đất nước.
Tôi bỗng nhớ đến những con đường hỗn loạn, những dự thảo chính chủ, cấm người ngực lép đi xe, những chỉ tiêu đầy hoang tưởng... Có gì giống với em bé hồn nhiên giữa sân Văn Miếu, những “Khoan-cắt-Bê-tông” dày đặc trên các bức tường?
Có chứ. Đó là sự tùy tiện. Nếu với trẻ nhỏ thì đó chỉ là tùy tiện một cách hồn nhiên, vô ý thức, thì với người lớn, đó lại là tùy tiện một cách có ý thức và vô trách nhiệm.
Những sự việc cụ thể trên kia chỉ là những cung bậc khác nhau của sự tùy tiện mà thôi. Dân thường thì tùy tiện ở góc phố. Quan chức thì tùy tiện trên bàn làm việc. Nhỏ thì tùy tiện ở góc sân. Lớn thì tùy tiện ở chính sách quốc gia. Hiện tượng thì khác nhau mà bản chất lại rất giống nhau.
Trong sự thất vọng, tôi lần đọc lại bản dự thảo hiến pháp đang được đưa ra lấy góp ý với hy vọng tìm thấy ánh sáng của một sự đổi mới. Nhưng không, vẫn ngổn ngang trong đó những tùy tiện rối bời. Những tùy tiện lớn hơn bất cứ tùy tiện nào mà tôi đã gặp.
Tôi rùng mình: Lẽ nào sự tùy tiện đã trở thành bản sắc?
---
Ghi chú: Đây là bản nguyên bài đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần.
---
Ghi chú: Đây là bản nguyên bài đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

