Hiển thị các bài đăng có nhãn Singapore. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Singapore. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

Giải mã tư tưởng Lý Quang Diệu


Ngày 1-6-2010, tôi lần đầu đến Singapore để bắt đầu hành trình mới: đến đây để làm việc. Theo tôi là cả một gia đình, vì thế tôi có chút hồi hộp, tất nhiên cả băn khoăn liệu mảnh đất này có phù hợp với cuộc sống mới của gia đình mình?

Họa sĩ 20 tuổi Ong Yi Teck dành 15 giờ vẽ chân dung ông Lý Quang Diệu với các đường nét được tạo ra bằng cách viết hàng ngàn lần tên của ông - Ảnh: channelasia.com


Trên đường từ sân bay Changi về NUS (ĐHQG Singapore), tôi thật sự ấn tượng bởi cây cối và cảnh quan hai bên đường. Ai đó nói chỉ nhìn cách người ta đối xử với động vật là biết xã hội đó văn minh đến nhường nào thì với tôi, chỉ cần nhìn vào cách người ta đối xử với cây cối ven đường cũng biết chính quyền sở tại tốt đến mức nào.

Lý do của nhận định này rất đơn giản: Việc đối xử tốt với động vật và thú cưng chịu ảnh hưởng nhiều bởi hành vi của các cá nhân, vì chúng thường sống chung với người. Còn với cây cối ngoài đường, do thiếu vắng mối liên hệ thân thuộc như thú cưng trong nhà thì chỉ chính quyền mới có khả năng quan tâm và chăm chút cho chúng.

Đó chính là một thước đo mức độ tốt xấu và hiệu quả trong hoạt động của chính quyền.

Một ngày sau, chúng tôi đi mua sắm để ổn định cuộc sống mới. Tôi quan sát người dân Singapore trong không gian sống thật sự của họ: siêu thị, cửa hàng và đặc biệt tại các khu ăn uống bình dân lúc nào cũng đông đúc nhộn nhịp. Quan sát cách họ nói chuyện và làm việc hơi ồn ào và thiếu phong cách riêng.

Cảm nghĩ tức thời lúc ấy của tôi là sự trưởng thành về văn hóa chưa bằng sự trưởng thành về kinh tế của đất nước này. Sự trưởng thành ấy, là cảm giác đồng nhất về văn hóa của một dân tộc không đậm đặc như ở những nơi tôi đã đi qua.

Tôi luôn cảm nhận được bản sắc đặc trưng này khi ở Việt Nam hoặc đến làm việc tại các nơi khác, nhưng ở Singapore thì không. Tôi chợt hiểu điều này là hiển nhiên vì cho đến lúc đó, Singapore mới 45 tuổi.

Bắt đầu từ lúc đó, tôi để tâm đến việc tìm hiểu bí quyết của Singapore, đặc biệt là bí quyết lãnh đạo của người lập quốc Lý Quang Diệu. Việc này không dễ chút nào, vì nó không chỉ đòi hỏi những quan sát mà còn phải có trải nghiệm thực tế. Sau một thời gian sống và làm việc tại Singapore, tôi bắt đầu hiểu ra nhiều điều có tính cách nền tảng cho sự phát triển của đất nước này.

Lần theo dấu vết đó, tôi nhận ra: chúng phần lớn bắt nguồn từ chính ông Lý Quang Diệu.

Sức mạnh ở con người
Ông Lý Quang Diệu trong một bài phỏng vấn năm 2007 đã thổ lộ: Ngay từ lúc khai sinh, Singapore được cho là không nên tồn tại và không thể tồn tại. Lý do là Singapore thiếu vắng các yếu tố cơ bản nhất để hình thành một quốc gia, đó là: một dân số đồng nhất, một ngôn ngữ chung, một văn hóa chung và một vận mệnh chung.

Singapore thuở ban đầu chỉ là một làng chài và một cảng biển nhỏ. Tài nguyên thiên nhiên không có. Nông nghiệp không có. Điện và nước cũng không thể tự túc và luôn trong tình trạng bị nước láng giềng Malaysia đe dọa cắt điện, cắt nước.

Nhưng ông Lý Quang Diệu đã nhận ra một điều: tài nguyên quan trọng nhất và duy nhất của Singapore là con người. Từ đó, ông xây dựng chính sách trọng dụng nhân tài, bất kể nguồn gốc xuất thân, chủng tộc, tôn giáo hay giới tính. Trong một phát biểu năm 1966, ông nói: “Trao cơ hội bình đẳng cho mọi người bất chấp địa vị, chủng tộc, tôn giáo hay giới tính, chúng ta có thể khai thác được những điều tốt đẹp nhất từ người dân”.

Chính sách trọng dụng nhân tài này đã phát triển thành hệ tư tưởng quốc gia của Singapore. Nó giữ vai trò chi phối trong việc tuyển dụng công chức, ban hành cũng như thực thi các chính sách phát triển lớn.

Nếu phải gọi tên ý thức hệ chủ đạo của Singapore là gì thì không sợ sai lầm khi nói rằng đó là: Trọng dụng nhân tài.

Chính vì thế mà ngay cả sau khi ông Lý Quang Diệu đã rút lui khỏi vị trí thủ tướng, chính sách trọng dụng nhân tài vẫn được Singapore triển khai rộng rãi và rốt ráo.

Có thể nêu ra hai ví dụ điển hình trong những năm gần đây, đó là: chính sách cấp học bổng cho các sinh viên Singapore xuất sắc đi học và nghiên cứu ở các đại học nổi tiếng trên thế giới và chính sách thu hút nhân tài, đặc biệt là nhân tài về khoa học - công nghệ đến làm việc tại Singapore, thông qua nhiều ưu đãi đặc biệt như tăng thêm 18% lương và hỗ trợ nhà ở trong ba năm cho người nước ngoài đến làm việc tại các viện nghiên cứu trọng điểm.

Chiến lược thu hút nhân tài này trong những năm gần đây còn mở rộng xuống bậc học phổ thông, khi Singapore liên tục đi săn lùng và cấp học bổng cho các học sinh xuất sắc trong khu vực đến Singapore học tập, tất nhiên với điều kiện sau khi ra trường phải làm việc một số năm nhất định tại đất nước này.

Trong số các học sinh này, có một phần là các học sinh xuất sắc của Việt Nam.

Nhưng người tài là gì? Đặc điểm lớn nhất của người tài và là tiêu chuẩn để phân biệt người tài với các loại chuyên gia giả danh khác, là kết quả của công việc. Chính kết quả thực tiễn của công việc mới là thước đo để đánh giá người tài, chứ không phải bằng cấp hoặc các phát biểu tầm chương trích cú.

Trong một bài trả lời phỏng vấn tờ New York Times năm 2007, ông nói: “Chúng tôi không có ý thức hệ”. Ngạc nhiên thay, không có ý thức hệ lại chính là ý thức hệ của ông Lý Quang Diệu và của Singapore.

Ông giải thích đơn giản về việc không bị ràng buộc bởi ý thức hệ khi làm việc bằng cách đặt câu hỏi: “Cái này có được việc không? Nếu được việc thì hãy thử. Nếu thấy tốt thì cứ tiếp tục. Nếu không thì xé bỏ, thử cái khác”.

Cách tiếp cận của ông tất yếu dẫn đến tư tưởng thực dụng trong điều hành đất nước. Nhiều người không thích tư tưởng thực dụng này và cho rằng nó thiếu lãng mạn, không đủ tầm vóc. Nhưng đây lại là sự thực dụng sáng suốt vì nó đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề.

Nó như thanh kiếm sắc cắt bỏ mọi rườm rà của lý luận để đến chỗ cần phải đến, làm việc cần phải làm, đó là mục tiêu duy nhất và xuyên suốt: phát triển Singapore.

Nhờ đó, chỉ sau bốn thập kỷ, Singapore đã từ một làng chài vươn mình trở thành một trong những đất nước phát triển, an toàn và sạch sẽ nhất thế giới.

Cốt tủy là sự trung thực

Trọng dụng nhân tài là tư tưởng chủ đạo của Lý Quang Diệu. Nhưng thế nào là trọng dụng nhân tài?

Trọng dụng nhân tài không đơn thuần là trả lương cao, dù trên thực tế đây là một yếu tố cốt yếu, khi Singapore trả lương cho đội ngũ công chức, đặc biệt là các lãnh đạo hàng bộ trưởng trở lên, mức lương vào hàng cao nhất thế giới.

Trọng dụng nhân tài cũng không đơn thuần là tạo môi trường tốt để nhân tài làm việc. Rất nhiều nơi đã làm như thế. Họ thậm chí còn dùng các mỹ từ như “trải thảm đỏ để đón nhân tài”, nhưng không ở đâu thành công như ở Singapore. Nhiều khi còn bị phản tác dụng, nhân tài bỏ đi vì những va chạm thực tế thường khắc nghiệt hơn mộng tưởng của hai phía.

Hai cách trọng dụng nhân tài trên đây có tính cách nửa vời, vì hiệu quả nằm ở sự hài lòng và trách nhiệm tự giác của phía người được trọng dụng. Nói theo cách dân dã, chính phủ không “nắm đằng chuôi” trong phi vụ “trọng dụng nhân tài” này.

Cách trọng dụng nhân tài của ông Lý Quang Diệu rất đặc biệt và rất hiệu quả vì mang tính khoa học và có hệ thống, cũng không phụ thuộc vào cảm xúc và trách nhiệm của người được trọng dụng. Nó làm một cỗ máy vận hành trơn tru dựa trên cơ sở của lý tính chứ không phải cảm xúc hay nhiệt huyết nhất thời của cả hai phía.

Cách làm của ông Lý Quang Diệu là nhìn thấu bản chất của các tương tác xã hội và cách thức vận hành của hệ thống, từ đó chọn ra một đặc tính trọng yếu nhất làm nền tảng, rồi phát triển thành cơ chế để vận hành cả hệ thống và văn hóa cho toàn xã hội.

Bất cứ người tài nào cũng phải có và quan trọng hơn là phải hành xử dựa trên đặc tính này. Nếu không, anh ta sẽ bị loại ra khỏi hệ thống để nhường chỗ cho người khác.

Vậy đặc tính đó là gì mà quan trọng đến vậy?

Thật thú vị, câu trả lời lại hiển nhiên đến mức hầu như mọi người đều biết. Đó đơn giản là: sự trung thực.

Từ sự trung thực của một cá nhân, ông Lý Quang Diệu đã mở rộng thành sự trung thực của cả một hệ thống. Thước đo của sự trung thực này chính là độ minh bạch trong cấu trúc và cơ chế vận hành của nó.

Vì thế, chính quyền do ông thiết kế không có chỗ cho sự dối trá nhập nhèm. Trong hệ thống đó, công chức “không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không muốn tham nhũng”.
Singapore như hiện tại là một địa chỉ sạch bóng tham nhũng trong một khu vực mà nạn tham nhũng rất phổ biến. Các thể chế đã được lập ra để giữ cho nó như vậy, ví dụ như văn phòng chống tham nhũng. Mọi người thăng tiến dựa trên năng lực của họ chứ không phải sắc tộc, ngôn ngữ hay tín ngưỡng của họ. Nếu chúng ta giữ vững được những thể chế này, chúng ta sẽ tiếp tục tiến bộ. Đó là hi vọng lớn nhất của tôi.
Ông Lý Quang Diệu

Kết quả là ông Lý Quang Diệu có được một chính phủ trung thực, trong sạch và minh bạch nhất thế giới, làm đầu tàu dẫn dắt sự phát triển của Singapore.

Sự trung thực cũng được ông Lý Quang Diệu phát triển thành văn hóa cho toàn dân Singapore. Chính vì thế, bên cạnh tư tưởng thực dụng và hài hòa dân tộc, sự trung thực được thừa nhận là một trong ba trụ cột phát triển của Singapore, là cơ sở để quản lý và điều hành xã hội.

Chính tư tưởng trọng dụng nhân tài dựa trên sự trung thực này, cộng hưởng với việc đặt lợi ích của đất nước lên trên hết đã tạo ra người khổng lồ Lý Quang Diệu và câu chuyện thành công Singapore. Đây có lẽ là bài học lớn nhất mà ông để lại cho hậu thế, đặc biệt là cho những nước đi sau, trong đó có Việt Nam.
GIÁP VĂN DƯƠNG
---

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

Chuyện láng giềng: “Dạy ít – Học nhiều” và “Thực học – Thực nghiệp”

Giáp Văn Dương
Trong cuộc chạy đua phát triển, nhiều nước đã coi cải cách giáo dục nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao như chìa khóa để vượt lên. Ở khu vực Đông Nam Á, ngoài Singapore là nước đã phát triển nhưng vẫn nỗ lực cải cách giáo dục để tiếp tục giữ vững vị trí hàng đầu, thì đáng chú ý là Malaysia, bắt đầu từ cuối tháng 8/2011, đã chính thức khởi động chương trình cải cách giáo dục đầy tham vọng.

Singapore

Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, năm 1965, các nhà lãnh đạo của Singapore luôn tâm niệm: Tài nguyên duy nhất của đảo quốc này là con người, và duy nhất con người. Trên thực tế, Singapore là quốc gia phi tự nhiên nhất thế giới, vì đất nước này không có bất cứ nguồn tài nguyên nào, kể cả thứ tối thiểu nhất là nước ngọt. Tất cả đều phải mua. Và lúc nào cũng ở trong tình trạng lo sợ: Muốn mua nhưng người ta không bán!

Chính vì thế, phát triển nguồn lực thông qua giáo dục được coi là chìa khóa duy nhất để Singapore phát triển. Từ một nước nghèo khi mới lập quốc những năm 1960, Singapore đã vượt lên sau bốn thập niên, trở thành một trong những nước có thu nhập bình quân tính theo đầu người cao nhất thế giới (43867 đô-la Mỹ/người, năm 2010). Kinh nghiệm này đã được ông Lý Quang Diệu, nguyên thủ tướng Singapore, chia sẻ nhân chuyến thăm Việt Nam năm 2007: Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục, sẽ thắng trong phát triển kinh tế. Ông cũng thẳng thắn nhận xét: Chất lượng nguồn nhân lực chính là “nút cổ chai” phát triển mà Việt Nam phải đương đầu.
Nhận định này tiếp tục được những người kế nhiệm ông chia sẻ, chẳng hạn, trong một bài phát biểu gần đây, ông Lý Hiển Long cho rằng: Giáo dục là nền tảng duy nhất để thịnh vượng và phát triển bền vững. Ưu tiên chính của mọi quốc gia phải là cải thiện hệ thống giáo dục.
Do đặc điểm riêng về chủng tộc và tôn giáo phức tạp, việc cải cách giáo dục ở Singapore không hề dễ dàng. Cái khó đầu tiên mà hầu hết các quốc gia không gặp phải, nhưng với Singapore lại là vấn đề đau đầu, là chuyện ngôn ngữ. Singapore có ba sắc dân chính, nói ba thứ tiếng khác nhau là tiếng Trung (người gốc Hoa), tiếng Malay (người gốc Malay)và tiếng Tamil (người gốc Ấn). Để tạo ra sự gắn kết cộng đồng, Singapore đã phải chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức để giảng dạy và làm việc. Theo ông Lý Quang Diệu, đó là chính sách khó khăn nhất mà chính phủ ông đã từng áp dụng. Nhưng không vì thế mà Singapore nản chí trong việc cải thiện hệ thống giáo dục của mình. Vì lúc nào họ cũng tâm niệm rằng, tài nguyên duy nhất họ có là con người, nên không còn cách nào khác, phải phát triển giáo dục.
Trong khoảng hai chục năm trở lại đây, có ba mốc đáng nhớ đánh dấu nỗ lực cải cách giáo dục của Singapore. Mốc thứ nhất là vào khoảng giữa những năm 1980, sự chững lại của kinh tế Singapore trong năm 1985-1986 và bối cảnh cạnh tranh toàn cầu đã thúc giục Singapore cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục theo hướng thị trường hóa để tăng khả năng sáng tạo của cả người học lẫn nhà trường. Điều này đã dẫn đến xu hướng mềm dẻo, tăng tự chủ và tăng tính cạnh tranh giữa các trường, mà điển hình là sự ra đời của một số trường phổ thông độc lập hoàn toàn với Bộ giáo dục vào năm 1988 và các trường tự trị năm và 1994.
Mốc đáng nhớ thứ hai là “Kế hoạch tổng thể về ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục” được đưa vào triển khai từ năm 1997, nhắm tới việc dùng công nghệ thông tin để cải cách cách phương pháp và nội dung dạy giảng dạy nhằm tăng cường tính sáng tạo của học sinh. Cũng năm này, thủ tướng Goh Chok Tong tiến hành cải cách giáo dục với triết lý mới: “Trường học tư duy, Đất nước học tập”. Trong đó, “Trường học tư duy” nhắm đến việc phát triển khả năng tư duy sáng tạo cho học sinh. Còn “Đất nước học tập” hướng đến việc tạo ra một xã hội học tập và coi học tập là một đặc trưng văn hóa quốc gia mà ở đó, sự sáng tạo và tinh thần đổi mới được cổ vũ và lan tràn ở mọi tầng bậc trong xã hội.
Mốc đáng nhớ thứ ba là năm 2004, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long kêu gọi thực hiện giảm tải để tăng tính sáng tạo cho học sinh. Chủ trương này đã được gói gọn trong một khẩu hiệu dễ nhớ: “Dạy ít - Học nhiều”. Điều này đã tạo ra một bước chuyển lớn trong hệ thống giáo dục: Chú trọng chất hơn lượng; giảm nhồi nhét kiến thức để học sinh được sáng tạo; dành những khoảng trắng trong khung chương trình để nhà trường có thể đưa chương trình riêng của mình vào.
Chiến lược “Dạy ít - Học nhiều” này đã “chạm được vào trái tim, cuốn hút được trí não của người học” và vươn đến những điều cốt yếu của giáo dục nói chung: “Tại sao dạy, dạy cái gì và dạy như thế nào?” Nội dung và phương pháp giảng dạy đã thay đổi đáng kể. Thay vì học thuộc lòng, học sinh được khuyến khích và buộc tham gia các dự án nhỏ như thiết kế đồ chơi, học theo nhóm... để áp dụng kiến thức học được, rèn luyện tính độc lập, cải thiện kỹ năng giao tiếp và tăng khả năng hợp tác trong công việc.
Chiến lược “Dạy ít - Học nhiều” này đã mang lại những kết quả đáng khích lệ, đưa Singapore thành một trong những nền giáo dục tiên tiến của khu vực và thế giới. Kinh nghiệm cải cách giáo dục để phát triển của Singapore thật để suy ngẫm. Ở đây chỉ nêu một ví dụ nhỏ, theo thủ tướng Lý Hiển Long, chìa khóa để tạo ra mọi thay thay đổi trong hệ thống giáo dục lại nằm ở một chi tiết mang tính kỹ thuật: Cải tiến quản trị giáo dục và tạo cơ hội thăng tiến cho giáo viên!

Malaysia

Bắt đầu từ cuối tháng 8 năm nay, Malaysia đã khởi động chương trình cải cách giáo dục đầy tham vọng. Mục tiêu của chương trình cải cách giáo dục này là cùng với chương trình cải cách kinh tế, giúp cho Malaysia trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2020.
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới năm 2010, nước có mức thu nhập cao nếu thu nhập bình quân tính theo đầu người đạt mức 12.276 đô-la/năm trở lên. Maylaysia, năm 2010 đạt mức thu nhập bình quân danh nghĩa tính theo đầu người là 8423 đô-la Mỹ/năm. Tuy nhiên, không hài lòng với kết quả đạt được, Malaysia đã nỗ lực cải cách để trở thành nước phát triển trong vòng một thập niên tới.
Để đạt được mục tiêu này, bên cạnh cải cách kinh tế với “Mô hình kinh tế mới”, Malaysia đã xúc tiến cải cách giáo dục nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, không chỉ đáp ứng được đòi hỏi của trình độ phát triển mới mà còn dẫn dắt sự phát triển đó để hướng đến việc đạt mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 15000 đô-la Mỹ/người/năm vào năm 2020, với lập luận: Không có vốn con người, không có nguồn nhân lực lành nghề và giỏi tiếng Anh thì không thể tạo ra bất cứ dịch chuyển nào trong kinh tế.
Cũng như Singapore, Malaysia có ba nhóm chủng tộc lớn là người Malay, người Ấn và người Hoa, nói ba thứ tiếng và theo ba tôn giáo khác nhau. Chính vì thế, chương trình giáo dục của Malaysia cho phép giảng dạy bằng cả ba thứ tiếng Malay, Hoa, Tamil ở bậc tiểu học. Ba chủng tộc này đều muốn có chính sách giáo dục có lợi nhất cho chủng tộc và tôn giáo của mình, nên việc tiến hành cải cách giáo dục luôn gặp khó khăn rất lớn. Chẳng hạn, năm 2003, chính phủ đã đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ dạy các môn Toán và Khoa học, nhưng gặp phải sự chống đối của cả các nhóm giáo dục người Malay và người Hoa, nên đến năm 2010 đành phải trở lại việc dạy các môn này bằng tiếng Malay.
Nhưng do nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, chính phủ Malaysia đã xúc tiến cải cách giáo dục với sứ mệnh “Phát triển hệ thống giáo dục đẳng cấp thế giới nhằm phát huy tối đã tiềm năng của cá nhân và hiện thực hóa giấc mơ phát triển của đất nước”, vì nhận thấy “giáo dục đang lạc hậu hơn so với các lĩnh vực khác”.
Điều này được thể hiện rõ nét qua các cải cách theo hướng “Thực học – Thực nghiệp”, trong đó chú trọng các môn Toán, Tiếng Anh và Khoa học; cải tiến phương pháp giảng dạy; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giáo dục để nâng cao chất lượng; phát triển hệ thống trường cao đẳng – dạy nghề; thu hút sinh viên và giảng viên quốc tế đến giảng dạy và học ở bậc đại học v.v.
Trông người lại ngẫm đến ta, năm 1996 Việt Nam đặt ra mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, nhưng đến nay đã đi được hai phần ba chặng đường mà đích đến còn quá xa vời. Trong hoàn cảnh đó, nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế đã nhiều lần khuyến cáo mạnh mẽ: Việt Nam phải cải cách giáo dục để phát triển; thất bại trong giáo dục là thất bại toàn diện, tuyệt đối v.v. Nhưng trên thực tế, những cải cách giáo dục của Việt Nam đều ở mức manh mún, đối phó và có thể nói là thất bại hoàn toàn.
Nay với sự đẩy mạnh cải cách giáo dục của những người hàng xóm, dù đã đi trước ta rất nhiều nhưng vẫn không ngừng nỗ lực cải tiến để phát triển, với những kế hoạch vừa tổng thể vừa thiết thực: như “Dạy ít - Học nhiều” của Singapore và “Thực học – Thực nghiệp” của Malaysia, chúng ta không khỏi lo lắng, giật mình.

---
Chi chú: Bài đã đăng Tuổi trẻ cuối tuần, số 42, 2011.

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

Lá thư hè Singapore

Nguyễn Xuân Xanh
Tháng 7, 2011
Thưa các Anh Chị,
Đầu tháng 7 vừa qua tôi (và gia đình) vừa đi chơi ở Singapore một tuần nhân con chúng tôi nghĩ hè. Đây là lần đến thăm Singapore sau hơn 10 năm. Chúng tôi được gặp các anh Vũ Minh Khương và Giáp Văn Dương tại nhà riêng trong một buổi cơm tối và trò chuyện thân mật. Những ngày còn lại cả gia đình đi “ta bà” để tham quan, đi đến rã cả chân. Singapore không mất đi vẻ thu hút mãnh liệt đối với tôi. Tôi xin ghi lại vài ấn tượng và suy nghĩ hời hợt gửi đến Anh Chị, và cũng như từ góc độ Singapore tìm hiểu xem tại sao Trung Quốc như thế mà Việt Nam không như thế.

(I)

Chắc nhiều Anh Chị ít nhiều đã đến Singapore. Một người bạn tôi từ Canada bảo những năm đầu 80 anh ấy đến Singapore vì công việc, mỗi lần đến đó thì tâm hồn “tan nát” khi nghĩ đến hoàn cảnh Việt Nam. Singapore chỉ cách Sài gòn 1.45 giờ bay, giống như Hà nội. Thế mà sao sự khác biệt lại kinh khủng thế?
Ai xây thành phố nhà nước này? Singapore có nhiều chủng tộc chủ yếu Hoa, Malay và Ấn. Nhưng cả thành phố không hề có vẻ châu Á chút nào, mà nó “Tây” một trăm phần trăm, trừ những khu Tàu, khu Ấn nhỏ truyền thống vẫn còn tiếp tục hoạt động.
Cái cảm giá đầu tiên là đường phố rất rộng, mật độ đường phố rất lớn, trong khi diện tích của đảo quốc rất nhỏ, chỉ 694km2, xe cộ chạy liên tục không kẹt lúc nào (có lẽ cũng kẹt đôi chút vào những giờ cao điểm), rất thông thoáng, không hề nghe tiếng còi xe inh tai như ở Việt Nam. Trong khi đó TP HCM có diện tích 2,095 km2 gấp hơn 3 lần Singapore, đường xá lại rất chật hẹp, mật độ đường lại quá nhỏ. Ô tô ở Singapore chạy vù vù như mắc cưởi, giống như trong roller coaster, rất nhanh, đến 80 miles/ giờ trong trung tâm, 100 miles ngoài trung tâm. Ai chưa quen tốc độ sẽ sợ hãi; nhưng một hồi rồi thấy mọi người đều lái rất đúng luật, chính xác và an tòan. Hệ thống đường giao thông của Singapore là 3D, trong khi hệ thống đường giao thông ở Việt Nam chỉ là 2D, hay bị tắc nghẽn nặng nề vào những giờ cao điểm. Tôi cho ai thiết kế hệ thống đường giao thông của Singapore là rất thông minh, và không phải dễ thiết kế được hệ thống đường xá như thế. Hệ thống đường giao thông giống như hệ thống các mạch máu chằng chịt lan tỏa khắp nơi để đưa máu nhanh chóng đến tất các bộ phận cơ thể. Chưa nói đến hệ thống tàu điện ngầm MRT, hệ thống xe búyt của Singapore rất hữu dụng. Không có một hệ thống giao thông thông minh như thế, thì không thể có được thành phố hiện đại, trung tâm tài chính, thương mại. So với cơ sở hạ tầng của Singapore, thì cơ sở hạ tầng của Việt Nam quả là còn primitive.
Cảm giác thứ hai là toàn bộ thành phố đều được phủ xanh một cách rất thông minh và khoa học. Không có một tấc đất nào của Singapore mà không có sự chăm sóc của bàn tay con người; không có khái niệm “đất hoang” ở đây. Họ có rất nhiều chủng loại cây thích hợp cho thành phố, và họ trồng cây xanh nhiều tầng như rừng nhiệt đới, tạo nên mảng thiên nhiên dầy đặc khắp nơi. Cây đẹp, tàn to tạo bóng mát, nhưng không quá cao gây nguy hiểm như các loại cây sao Pháp đã trồng lâu đời ở Việt Nam. Người ta có ngay cảm tưởng dễ chịu khi ra khỏi phi trường, rằng mình đang sống trong thành phố công viên tươi mát có bàn tay thiết kế và chăm bón tuyệt diệu của con người. Phần lớn các nước châu Á không để ý đến cây xanh. Lý Quang Diệu ngay từ đầu đã có kế hoạch làm xanh cả đất nước như một chương trình lớn. Ông mời chuyên gia cây cỏ nước ngoài đến nghiên cứu thổ nhưỡng và biện pháp, gửi người đi tìm khắp những nơi có khí hậu gần giống Singapore để mang về những giống cây làm giàu cho thảm thực vật họ. 8000 giống lạ được mang về Singapore và 2000 trong đó đã sống được. Singapore cũng giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí rất tốt. Công viên chim, Bird Park, rất ấn tượng, được đặt ngay bên cạnh trung tâm công nghiệp lớn Jurong, nếu không xử lý khí thải thì mấy con chim kia chắc sẽ không sống được lâu.
Cuộc xanh hóa của Singapore đã được lãnh đạo các nước lân bang “bắt chước”: Mahathir xanh hóa Kuala Lumpur, Suharto Jakarta, Marcos Manila, Thanin Bangkok, tất cả vào những năm cuối 70.
Các công trình văn hóa ấn tượng của Singapore không chỉ là dành cho du khách để kiếm tiền, mà còn để giáo dục con người Singapore. Chẳng hạn như những công trình Công viên chim, Sở thú, Safari đêm, Vườn Bách thảo, Trung tâm khoa học (Science Center), Lịch sử Singapore (Images of Singapore, một công trình rất ấn tượng tại khu vui chơi Sentosa) đều có tính giáo dục rất cao…. Học sinh và thầy cô Việt Nam muốn học hỏi về khoa học, cây cỏ, sinh vật, lịch sử chỉ có nước qua Singapore, chứ không nơi nào ở Việt Nam có những công trình giáo dục cụ thể và qui mô như thế. Đó là những công trình ấn tượng mà du khách có thể tham quan cả ngày, cả tuần. Thật thấy thương học sinh Việt Nam.
Vì sao với một đảo quốc nhỏ, khi tách khỏi Malaysia vào năm 1965 chỉ có 2 triệu dân (và hiện nay khoảng 3.2 dân, cộng với người nước ngoài đến làm việc là 5.1 triệu), mà Ông Lý Quang Diệu đã làm nên lịch sử? Thời thế tạo anh hùng, hay anh hùng tạo thời thế? Tại sao trong khoảng 2 thập kỷ thôi, Ông Lý Quang Diệu đã thay đổi hẳn những tật xấu cổ truyền của các dân tộc sống trên đó như khạc nhổ, xả rác, gây tiếng ồn, tính thô bạo trong cư xử, làm ăn gian dối… để biến họ thành những người văn minh, đối xử ân cần và lịch sự với nhau? Ông đã từng bước dẹp nạn taxi dù và tệ bán hàng rong trên hè phố, đặc biệt trước các cổng trường, tệ dắt bò đi ăn vào thành phố gây tai nạn chết người, tệ đốt pháo vào ngày tết cổ truyền Trung Quốc gây thiệt hại về con người và tài sản. Xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố mới dễ hơn nhiều thay đổi thói quen cố hữu của người dân. Nhưng ông đã khôn ngoan làm được.
Lý Quang Diệu kể lại tệ khạc nhổ của người Trung Quốc. Đó là trong chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của ông tại Đại sảnh đường nhân dân (Great Hall of the People) năm 1976 tại Bắc Kinh, ông nhận thấy có các ống nhổ được đặt tại các phòng họp nơi tiếp ông. Một số vị lãnh đạo đã sử dụng các ống nhổ này. Khi Đặng Tiểu Bình đến thăm Singapore năm 1978, phía Singapore đặt một ống nhổ màu trắng xanh thời nhà Minh cạnh ghế ông trong phòng họp cho ông sử dụng. Nhưng ông không sử dụng, có lẽ ông đã nhận ra rằng người Hoa ở Singapore đã không còn khạc nhổ nữa. Đến lần thăm tiếp của ông tại Bắc Kinh năm 1980, tức bốn năm sau, ông không còn thấy các ống nhổ đặt tại các phòng họp nữa. Vài năm sau ông tiếp một chính khách khác của Trung Quốc đặc trách kinh tế tại Singapore, Lý Quang Diệu nhắc lại việc các lãnh đạo Trung Quốc không còn sử dụng ống nhổ nữa như một điều tốt. Nhưng vị khách này tiết lộ với ông, đó chỉ là hình thức thôi, chứ các vị lãnh đạo vẫn còn tiếp tục sử dụng ống nhổ trong phòng làm việc của họ!
Singapore vừa là trung tâm tài chánh, vừa là một điểm du lịch hấp dẫn (chưa nói đến các chức năng khác như giáo dục, công nghệ, cảng trung chuyển vùng). Người ta chờ đợi Singapore sắp tới sẽ trở thành trung tâm quản lý tài chánh lớn nhất thế giới vượt cả Thụy Sĩ. Với số dân khiêm tốn 3.2 triệu dân, Singapore có đến gần 12 triệu khách du lịch, gấp 4 lần số khách du lịch đến Việt Nam (Việt Nam dân số trên 85 triệu, có số khách du lịch chỉ khoảng 3 triệu). Người ta bảo rằng 4 (hay 5) người khách du lịch đủ nuôi sống 1 người Singapore.




Khách sạn mới xây Marina Bay Sands, có kiến trúc chiếc tàu ở phía trên, giống như stonehenge ở Anh. Vé đi lên chiếc tàu này là S$20/ người chỉ để ngắm cảnh thôi! Giá ngủ một đêm ở đây khỏang 1.000 USD.
Ngay từ đầu lập quốc, Ông Lý Quang Diệu đã quyết tâm làm cho Singapore khác biệt các nước thế giới thứ ba một cách triệt để và nhanh chóng, và có tham vọng phải tiến lên thế giới thứ nhất. “Một nhánh của chiến lược tôi là biến Singapore thành một oasis của Đông Nam Á, bởi vì nếu chúng ta có các tiêu chuẩn của thế giới thứ nhất, thì doanh nhân và khách du lịch sẽ sử dụng đất nước chúng ta thành một bàn đạp cho hoạt động kinh doanh và các tour du lịch trong khu vực.” Tiếp đến là phải thay đổi hẳn thói quen cổ truyền cản trở của hai triệu dân, thông qua giáo dục họ, giáo dục con cái họ trong nhà trường để có tác dụng lên cha mẹ, và thông qua luật pháp. Để đạt được First World standards trong một vùng của thế giới thứ ba, Lý Quang Diệu quyết định biến đất nước thành một thành phố-vườn-nhiệt đới, và phải làm cho nó “sạch và xanh” theo đúng nghĩa. Với xanh và sạch, Singapore đã nhanh chóng gây được ấn tượng tốt mạnh mẽ cho thế giới. Không những giữ cho cảnh quang xanh, sạch, mà ông còn giữ cho chính quyền Singapore trong sạch. Trong cái bể của tham nhũng nẳng nề của châu Á thì Singapore nổi lên như một hòn đảo ít tham nhũng nhất, sạch nhất.
Singapore lại thể hiện một lần nữa tinh thần “thoát Á nhập Âu” mà Nhật Bản thời Minh Trị đã đi tiên phong. Việc chuyển đổi một đất nước từ thế giới thứ ba sang đất nước có tiêu chuẩn thế giới thứ nhất là không dễ. Những ý tưởng của Lý Quang Diệu lúc đầu bị xem là không tưởng. Các phóng viên nước ngoài cười chế nhạo những chiến dịch “làm tốt” của Singapore. Nhưng Lý Quang Diệu tin rằng “chúng ta sẽ là những người cười sau cùng. Chúng ta sẽ phải cam chịu trở thành một xã hội thô tục hơn, khiếm nhã hơn, thô bạo hơn nếu chúng ta không làm những nỗ lực này để thay đổi cách sống. Chúng ta chưa đạt tới mức một xã hội có giáo dục và văn minh, và chúng ta không xấu hổ ra sức trở thành một dân tộc như thế trong một thời gian ngắn nhất có thể.”

(II)

Bây giờ đến câu hỏi: Vì sao Trung Quốc làm được những kỳ tích mà Việt Nam thì không? Thực tế, cuộc thăm viếng lần đầu tiên năm 1978 của Đặng Tiểu Bình tại Singapore là cái mốc lịch sử hết sức quan trọng cho cuộc chuyển đổi Trung Quốc. Ông đã tận mắt nhìn những thành quả ấn tượng của mấy triệu dân Singapore cần cù, thông minh này và đã hết lời khen ngợi ông Lý Quang Diệu. Cuối chuyến đi, Đặng Tiểu Bình nói: “Phải chi tôi chỉ có Thượng Hải thôi (dân số gấp ba hay bốn lần dân số Singapore), thì tôi sẽ có thể biến đổi nó nhanh chóng (như ông đã biến đổi Singapore). Nhưng tôi có cả một đất nước Trung Hoa!”
Trong chuyến đi này Đặng Tiểu Bình đã nghe Lý Quang Diệu “giảng bài” về lợi hại của chủ nghĩa: “Chủ nghĩa Cộng Sản chỉ thành công nếu ông tin rằng tất cả mọi người hy sinh mình cho đồng loại chứ không cho gia đình hay chính bản thân mình. Còn tôi, tôi hoạt động trên cơ sở rằng con người, trai cũng như gái, trước nhất lao động cho chính bản thân và gia đìng họ, và chỉ trên cơ sở đó họ mới chia sẻ một phần thành quả lao động của họ cho những người đồng loại ít may mắn hơn. Đấy là nên tảng hoạt động của tôi.” Ông Lý cho rằng các nhà lãnh đạo kỳ cựu của cuộc Trường Chinh của Trung Quốc không hiểu gì cả về kinh tế thị trường cả, tuy cũng có thể đã đọc Adam Smith.
Lý Quang Diệu nói: “Nếu Đặng Tiểu Bình không đến đây (trong những năm 70) và thấy các tập đoàn đa quốc gia phương Tây tại Singapore tạo ra sự phồn vinh cho chúng tôi, đào tạo người của chúng tôi để rồi chúng tôi có khả năng xây dựng một xã hội phồn vinh, thì ông ấy sẽ không bao giờ (dám) mở cửa…mở cửa các Đặc khu kinh tế miền ven biển, điều cuối cùng dẫn đến việc cả nước Trung Hoa mở cửa và đi vào WTO.” Sự thành công của Singapore là thí dụ “bảo chứng” cho quyết định mở cửa của Đặng Tiểu Bình.
Ảnh hưởng của Singapore và của cá nhân ông Lý Quang Diệu lên các nhà lãnh đạo làm chính sách của Trung Quốc là rất to lớn chưa thể đánh giá hết được. Thực tế, các TP mới của Trung Quốc là hình ảnh “cảm ứng” của mô hình Singapore của Lý Quang Diệu, dĩ nhiên theo cách làm riêng của Trung Quốc. Hạt giống Singapore đã được đem về trồng trên đất Trung Quốc. Singapore giúp đào tạo cán bộ, chuyên viên cao cho Trung Quốc trong cuộc chuyển đổi này. Hằng năm Trung Quốc gửi 110 – 120 thị trưởng, hay các viên chức cùng cấp, từ các thành phố của họ đến học tập một khóa từ tám đến chín tháng về quản lý công và quản lý thành thị. Họ được dạy bằng ngay tiếng Hoa. Còn gì hay bằng! Sau đó họ đi thực địa và nghiên cứu tại chỗ, và khi về nước, họ viết lại những kinh nghiệm học tập tại Singapore. Singapore cũng có những liên doanh xây dựng một số thành phố kiểu mẫu, trong đó có thành phố sinh thái Thiên tân. Hai bên có một ủy ban hỗn hợp họp thường niên, cấp phó thủ tướng.
Kể ra những chi tiết trên là để minh họa phần nào sự dấn thân của Singapore và Ông Lý Quang Diệu vào Trung Quốc thế nào để giúp lãnh đạo Trung Quốc thực hiện quá trình chuyển đổi kinh tế và xây dựng đất nước. Lý Quang Diệu được xem là Tutor cho giới lãnh đạo Trung Quốc, và có quan hệ rất mật thiết, hiểu biết Trung Quốc rất sâu sắc. Nhiều Tổng Thống Mỹ đã gặp Lý Quang Diệu trước, để nghe ý kiến của ông về Trung Quốc, rồi mới đến thăm Trung Quốc sau. Đối với Trung Quốc, sự hợp tác với Singapore là mưu đem lại lòng tin đối với thế giới cho công cuộc đổi mới của Trung Quốc. Còn đối với Singapore, ông Lý Quang Diệu giúp Trung Quốc là nhắm có được một chân trên chuyến xe tốc hành Trung Quốc vào thế kỷ 21 mà ông bảo sẽ là thế kỷ Trung Quốc. Và ông đã thú nhận đã đạt được điều đó. Thế còn chân thứ hai của Singapore ông để ở đâu? Ở Hoa Kỳ: “Số phận của chúng tôi không chỉ tùy thuộc vào điều gì xảy ra ở Johor hay Indonesia hay ở ASEAN. Nó tùy thuộc vào điều gì xảy ra ở Mỹ trong trật tự mới ngày hôm nay này.” Đi một mình với Trung Quốc ông sợ có ngày bị cọp ăn thịt mất.
Còn về cách tuyển chọn nhân sự ở Trung Quốc, ông Lý Quang Diệu nhận xét rằng, sau cuộc cách mạng văn hóa, Đảng Cộng Sản Trung Quốc trở lại mô hình tuyển dụng của vua chúa thuở xưa: chọn lựa qua tài năng, qua học lực, sát hạch. Mỗi thí sinh đều có hồ sơ học lực từ đầu. Và sự xét duyệt để bổ nhiệm dựa trên hồ sơ đó. Cho nên thế hệ lãnh đạo sau đều được học cao hơn thế hệ trước. Bây giờ có cả những thị trưởng có bằng Ph.D, và một số trong họ có bằng MBA của các trường đại học Mỹ.
Trung Quốc làm được những kỳ tích là vì lực lượng của Đặng Tiểu Bình là lực lượng đổi mới, sau khi Mao qua đời và “bọn bốn người” bị xử, lực lượng mao-ít đã cáo chung. Các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc muốn đoạn tuyệt với quá khứ của cách mạng văn hóa đã gây quá nhiều đau khổ. Đặng là người đã dám đoạn tuyệt với chủ nghĩa Cộng Sản, theo lời Lý Quang Diệu; và đó chính là một bước đại nhảy vọt của lãnh đạo Trung Quốc về mặt tư tưởng. Họ có kỳ vọng đưa đất nước tiến lên khỏi sự lạc hậu để thiết lập lại đẳng cấp của dân tộc đã bị mất đi hàng thế kỷ. Đằng sau họ là đống tro tàn không có gì để luyến tiếc. Trong kế hoạch đổi mới, Trung Quốc có Singapore làm mô hình để học hỏi cụ thể, và có Lý Quang Diệu làm người hướng đạo bên cạnh cho cuộc hành trình.
Còn Việt Nam, đặc thù tình hình đã khiến không có một lực lượng đổi mới rõ ràng nào cả. Những người cũ hôm qua tiến hành cuộc đổi mới hôm nay. Không có một sự đoạn tuyệt về tư tưởng và một sự ‘thay ca’ về nhân sự như ở Trung Quốc; quá khứ cứ mãi là ‘thiêng liêng’ và trở thành ‘điệp khúc chính trị’ thay cho nhận thức mới trong thời kỳ cần thiết có những thay đổi sâu sắc và triệt để; thiếu vắng ý chí vươn lên thật mạnh mẽ để mở đường. Cho nên đổi mới là không triệt để, nếu không muốn nói là nửa vời. Đổi mới ở Việt Nam không vì đổi mới nhằm ‘lột xác’ thực sự để đóng lại chương cũ của quá khứ và mở ra một chương mới trước tình hình mới của thế giới. Mà Đổi mới của Việt Nam nhằm bảo vệ cái cũ nhiều hơn. Các nhà lãnh đạo Việt Nam có thể học ở Singapore, có thể được Lý Quang Diệu giúp đỡ nhiều hơn, nhưng họ không có động cơ mạnh mẽ, vẫn còn nhìn lại phía sau để luyến tiếc. Họ không học mô hình Singapore ở ngay trước mắt và kho tàng tri thức của Lý Quang Diệu như lãnh đạo Trung Quốc đã làm. Lý Quang Diệu cho rằng, những người lãnh đạo Việt Nam có thói quen cố hữu của ‘chiến tranh du kích’, không ai nghe ai, không tập trung, chính quy, thiếu một lãnh đạo mạnh, và họ rất nghi ngờ người nước ngoài. Thủ tướng Phạm Văn Đồng, do thời cuộc bấy giờ, chưa phải là người cầu thị, ông đến Singapore sau 1975 với tư thế của người chiến thắng và người cộng sản tự hào, ông chưa thấy cái to lớn của Singapore và nhu cầu học hỏi, cái lạc hậu của khối xã hội chủ nghĩa, ông vẫn còn ảo tưởng về Chủ nghĩa xã hội trước khi đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng sắp đến. Cuộc gặp gở đó không để lại những ấn tượng đẹp ở Lý Quang Diệu, như cuộc gặp gở với Đặng Tiểu Bình đã làm, chưa nói làm mích lòng chủ nhà là khác. Phải đợi mười năm sau, khi Việt Nam bị cô lập, khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng, Thủ tướng Võ Văn Kiệt mới là người đến với Lý Quang Diệu với tư thế thật sự cầu thị. Và cũng chỉ lúc đó ông Lý Quang Diệu mới có cảm tình với lãnh đạo Việt Nam. Tổng bí thư Đổ Mười, tuy không phải là người hăm hở đổi mới, nhưng cũng đã có ý muốn áp dụng một số ý tưởng của mô hình Singapore nhưng rồi người ta bàn bạc cho nó tan biến đi; chính ông đã cho dịch các bài phát biểu của Lý Quang Diệu và phổ biến đầu tiên tại Việt Nam. Người Singapore và nước ngoài vào làm ăn gặp phải những khó khăn không đáng có. Việt Nam không muốn học hỏi cái mới thật sự, mà chỉ muốn tự biên tự diễn và tự hào về mình là chính, loại bỏ tất cả những gì mình không ưa, bị giới hạn trong tầm nhìn, khác với tinh thần đổi mới, cầu thị và sự nhìn xa của Trung Quốc. Thái độ đó tự hại mình, tự che mắt mình, giống như thái độ tự cao tự đại của vua quan Việt Nam xưa khi nhìn người nước ngoài đến muốn làm ăn với Việt Nam. Cái đuôi sam kia vẫn chưa bị xén, và vẫn cứ mọc dài ra vào thế kỷ 21 này. Chính sách tuyển chọn nhân sự của Việt Nam cũng không dựa trên tài năng, học lực, mà chỉ dựa trên quan hệ, vây cánh, ‘tính truyền thống’, óc vâng lệnh phục tùng để chìu lòng cấp trên, và cấp trên chỉ muốn nghe những gì mình thích từ cấp dưới, hay dựa trên sự ‘mua quan bán chức’. Trong khi phần lớn các thị trưởng, tỉnh trưởng ở Trung Quốc đều là những người trẻ tuổi, học hết cấp ba, thì ở Việt Nam giới này là những người cầm quân trước đây trong quân đội. Ông Lý Quang Diệu đề nghị với Thủ tướng Kiệt và bộ sậu của ông là nên bổ nhiệm các chiến sĩ lão thành vào các chức vụ tư vấn và đưa những người trẻ, nhất là những người trẻ có khuynh hướng mở cửa kinh tế sang phương Tây lên đảm trách công việc hàng ngày. Ông Lý Quang Diệu cho rằng, Việt Nam cần cởi bỏ chiếc áo chật cộng sản, thì họ mới tiến nhanh và uyển chuyển đến thắng lợi. Lý Quang Diệu nhìn thấy tiềm năng của người Việt Nam qua cuộc chiến tranh gian khổ, và sự thành đạt của Việt Kiều ở Mỹ và Pháp, đó phải là những điều nhắc nhở rằng dân tộc này là dân tộc có những phẩm chất tuyệt vời.
Không có quyết tâm đổi mới để đưa đất nước nhanh chóng hóa rồng thì cũng sẽ không có chính sách nhân sự đúng đắn, trong sáng và phù hợp với nhu cầu. Nhân tài bị bốc hơi, bị loại khỏi sân chơi và không được lắng nghe. Ngựa giỏi đã hết trong chuồng.
Người Trung Quốc đã xóa được những hậu quả của cuộc cách mạng văn hóa, của bức tranh mà Mao Trạch Đông đã muốn vẽ áp đặt lên lịch sử 5.000 năm của Trung Hoa, phục hồi lại DNA của dân tộc. Còn Việt Nam, chẳng biết DNA bốn nghìn năm văn hiến có còn nguyên vẹn hay không trước sự băng hoại nghiêm trọng và kéo dài hiện nay của xã hội?

(III)

Sau cùng tôi xin nói thêm đôi lời về Lý Quang Diệu. Ông là một con người không phải không có tranh cãi. Nhiều người dân chủ không chia sẻ một số quan điểm của ông. Ông xem cuộc xây dựng Singapore là một “cuộc cách mạng xã hội bằng những biện pháp hòa bình”, và không bao giờ đi chệch khỏi mục tiêu đó. Ông tự nhận mình là người theo Khổng giáo: “Tôi không bị ràng buộc bởi lý thuyết, nhưng sự giáo dục của tôi trong một gia đình kéo dài ba thế hệ làm cho tôi trở thành một người theo Khổng giáo không ý thức. Niềm tin Khổng giáo thâm nhập vào tôi, rằng xã hội chỉ hoạt động tốt khi mọi người đều nhắm trở thành người quân tử.” Ông tin vào đạo ‘ngũ thường’ của Khổng tử. Từ thế giới quan này, ông đặt quyền lợi đất nước lên trên quyền lợi cá nhân, đặt nặng vai trò của một nhà nước mạnh và ưu việt để gìn giữ trật tự. Nhưng thành quả mới là sự biện minh cho nhà nước đó. Người ta có thể biện minh sự kiểm soát tối đa của nhà nước và sự loại bỏ đa nguyên chính trị cần thiết, vì ổn định và phát triển. Nhưng rồi người ta phải chứng minh bằng thành quả của hành động. Không có thành quả tương ứng, anh chỉ là kẻ tham quyền vô độ. Nếu quyền lực chỉ vì quyền lực, đất nước dễ rơi vào chủ nghĩa ích kỷ, bè phái, tham nhũng và lũng đoạn. Lý Quang Diệu không xem mình là ‘soft authoritarian’ như một số người ở phương Tây xem ông, bởi vì ông có kết quả để biện minh, và kết quả là rất thuyết phục; và các chính sách của ông cứ bốn đến năm đều được cử tri chấp thuận lại với một đa số không dưới 60 phần trăm. Với quan niệm Khổng giáo, ông đặt nặng trách nhiệm của những người lãnh đạo: “Chúng ta đừng bao giờ quên rằng chúng ta, những tinh hoa được giáo dục theo hệ thống giáo dục Anh, chỉ xứng đáng với vị trí chúng ta bao lâu chúng ta có năng lực phục vụ xã hội.” Trước khi rời đại học Frizwilliam, Cambridge, Anh, nơi ông đã học 4 năm ngành luật và đã tốt nghiệp với hạng Double Starred First Class Honours để trở lại Singapore hoạt động, Lý Quang Diệu trong một bài diễn văn đã khẳng định quyết tâm sắt đá của mình: “Chúng ta phải đạp đổ niềm tin rằng chúng ta là thấp kém và sẽ luôn mãi thấp kém so với người châu Âu.” Ông đã học được sự sống chung hòa bình của các chủng tộc khác nhau từ không quốc gia nào khác hơn là Thụy Sĩ để làm mô hình sống chung cho các sắc tộc của Singapore sau này.
Ông tự ý thức việc làm phục vụ cho sự nghiệp của nhân dân Singapore mặc cho những lời chỉ trích: “Điều mà giới đọc giả thế giới phương tây không hiểu là cuối cùng tôi không quan tâm họ đánh giá tôi thế nào. Tôi chỉ quan tâm nhân dân mà tôi lãnh đạo đánh giá tôi thế nào.”
Triều đại Lý Quang Diệu có thể cũng sẽ không vĩnh viễn. Ông nói: “Mỗi hệ thống cần được xét lại theo thời gian. Không hệ thống nào tồn tại vĩnh viễn. Các điều kiện thay đổi, những thiếu sót trong hệ thống phát triển quá mức, lúc đó người ta cần phải xem xét lại. Anh không thể nói đó là một nguyên lý phổ quát có giá trị vĩnh cửu.” và “Đó là nhiệm vụ của thế hệ hiện tại và tương lai của giai tầng lãnh đạo có nhiệm vụ thay đổi và tu chỉnh hệ thống khi xã hội và công nghệ thay đổi.” Dù sao Lý Quang Diệu cũng sẽ đi vào lịch sử như một “người cha lập quốc” bất tử của Singapore.
Ông không tin vào Thượng đế, mà tin vào thuyết tiến hóa của Darwin. Singapore có lẽ là sự minh họa hùng hồn cho thuyết tiến hóa này: thích nghi để tồn tại, một cách thông minh. Ông không làm nô lệ cho một ý tưởng giáo điều nào. Ý tưởng nào không phù hợp, ông vứt nó đi và tìm ý tưởng khác. Ông là một người thực dụng. “Tôi đuổi bắt các ý tưởng, miễn là chúng đem lại kết quả. Nếu không, tôi nói, xem này, ý tưởng này có thể nghe hay đấy, nhưng thôi chúng ta hãy đi tìm cái gì khác hoạt động có hiệu quả đi”. Đầu ông là một ‘vườn ươm ý tưởng’. Có người lý tưởng hóa ông khi nói rằng, tại miếng đất Khổng tử của ông, Plato và Machiavelli gặp gỡ nhau, và Lý Quang Diệu chính là một ‘Machiavelli châu Á’.
Về sự thành công của Lý Quang Diệu: ông có lẽ thành công là vì Singapore là mảnh đất nhỏ, dân số lúc độc lập chỉ 2 triệu người; nhưng ông chắc sẽ gặp khó khăn hơn với một đất nước dân số đông vài chục triệu người. Lực lượng đối lập và bảo thủ sẽ đông đảo và sẽ có thể loại ông ra khỏi cuộc chơi. Cũng may mắn cho ông. Trong chừng mực này, thời cơ đã tạo anh hùng. Dĩ nhiên điều ngược lại cũng đúng.
Thưa các Anh Chị, bức tranh trên nói về Singapore, Lý Quang Diệu, Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc, Việt Nam nhìn từ góc độ Singapore chắc chắn cần có sự điều chỉnh, tôi mong những anh chị am hiểu tình hình Singapore hơn tôi, những anh chị đã từng sống ở đó, anh Võ Tá Hân và các bạn của anh chẳng hạn có thêm ý kiến, hay các anh Việt, Long, Dũng từ góc độ Mỹ, và nhiều anh chị khác có nghiên cứu những vấn đề này.

(IV)

Cuối thư, xin mách thêm: các Anh Chị nào muốn thấy được “ngọc xá lợi Phật” có thể đến thăm “Chùa răng Phật”, vì họ có lưu trữ một chiếc răng Phật và nhiều xá lợi Phật khác. Ngôi chùa 5 tầng này cũng rất hiện đại như chính Singapore vậy. Chùa đã góp nhặt nhiều di tích Phật giáo châu Á quý báu. Còn ai muốn ăn chay thì xin đến khu Mustafa, ở đó có rất nhiều nhà hàng chay Ấn độ và Đài Loan. Còn ai muốn thưởng lãm đồ ăn Thụy Sĩ, xin hãy đến nhà hàng “Marché” tại Sommerset 313, Orchard Road, rất ấm cúng và thanh lịch, trang trí bằng toàn gỗ từ và theo kiểu Thụy Sĩ. Singapore có nhiều nhà sách lớn tuyệt vời để thỏa mãn những người yêu sách: Borders (Mỹ), Kinokuniya (Nhật, nằm ngay trong đại siêu thị Takashimaya, Orchard Road), hay một nhà sách lớn khác (PAGEONE) ở khu mua sắm Vivo gần khu vui chơi Sentosa. Người mua vô ra nườm nượp, phản ảnh trình độ văn hóa cao của người dân Singapore. Sách vở bày bán có thể còn nhiều hơn ở Mỹ, đủ tất cả các chủng lọai tri thức trên đời.
Thư đã khá dài. Xin tạm ngừng bút. Cám ơn các Anh Chị.
Thân ái,
NXXanh
-----
Tài liệu tham khảo:
[1] Alex Josey, Lee Kwan Yew, The Crucial Years. Times Books International. Singapore. Luala Lumpur, 1986; reprint 1994.
[2] Lee Kwan Yew, Memoirs. From Third World to First. The Singapore Story: 1965-2000.Marshall Cavendish Editions 2000; reprint 2011.
[3] Tome Plate, Conversations with Lee Kwan Yew. How To Build A Nation. Marshall Cavendish Editions 2010.
---
Nguồn: viet-studies.info