Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2021

Dạy học trực tuyến theo phương pháp đồng kiến tạo


Những ngày qua, do dịch Covid-19 bùng phát trở lại, nhiều tỉnh thành đã triển khai việc học trực tuyến cho học sinh các cấp. Tuy không bị động như năm ngoái, nhưng các hạn chế về phương pháp giáo dục vẫn còn nguyên. Điều đó cho thấy, phương pháp dạy học trực tuyến, hay dạy học trực tuyến sao cho hiệu quả, là một vấn đề còn bỏ ngỏ.

Là một phụ huynh, cũng là một người làm giáo dục nên tôi có thể quan sát việc dạy học trực tuyến này từ nhiều góc độ khác nhau. Vì thế, tôi trao đổi tại đây một số ý kiến ngắn gọn liên quan đến việc dạy học trực tuyến. Hy vọng việc này sẽ giúp giáo viên, phụ huynh, học sinh cải thiện phần nào chất lượng dạy và học trực tuyến trong thời gian nghỉ tránh dịch này.

1. Về thiết bị, phần mềm và internet: Đây là phần dễ nhất trong dạy học trực tuyến. Thông thường, chỉ cần một máy tính, laptop hoặc máy tính bảng nối mạng với internet, và sử dụng các phần mềm như Zoom hoặc Google Meet, Microsoft Teams là đã đủ để triển khai dạy học trực tuyến. Lúc đầu giáo viên, học sinh và phụ huynh có thể bỡ ngỡ, nhưng sau khi được hướng dẫn thì thường chỉ sau một buổi là học sinh đã sử dụng thông thạo, tự đăng nhập và tham gia lớp học, kể cả học sinh lớp 1.

2. Về việc hỗ trợ và giám sát học sinh: Hiện chưa có quy định cứng tuổi nào thì được sử dụng internet, nhưng các nhà cung cấp dịch vụ trên mạng thường chọn mức 13 tuổi. Dưới tuổi này, khi sử dụng internet thì trẻ thường được yêu cầu phải có người giám hộ. Ví dụ: Khi đăng ký email hay tài khoản mạng xã hội, nếu dưới 13 tuổi, thì tài khoản của trẻ phải gắn với tài khoản của bố mẹ.

Vì trẻ ở bậc Tiểu học dưới 13 tuổi, nên về nguyên tắc, khi học qua internet, phải có người lớn giám sát trẻ. Điều này không có nghĩa là phải có người lớn ngồi học cùng, mà tài khoản mà trẻ sử dụng phải được giám sát qua tài khoản của phụ huynh, và tốt nhất là trẻ phải ở trong tầm mắt của người lớn khi sử dụng internet. Điều này sẽ đảm bảo phần nào an toàn cho trẻ nhỏ khi lên mạng internet.

3. Về thời lượng học tập trực tuyến: Các nghiên cứu về giáo dục trực tuyến cho thấy, khi tự học qua các video clip thì thời gian tập trung để xem video clip của người học nằm trong khoảng 5-7 phút. Sau đó người học sẽ mất tập trung và bỏ dở clip về bài học đang xem. Đây chính là rào cản lớn nhất làm cho giáo dục trực tuyến không được hiệu quả như mong đơi, dù rất tiện lợi cho cả người dạy và người học.

Khi dạy trực tuyến qua Zoom, Meet, Teams thì do có sự tương tác trực tuyến, thời gian tập trung của trẻ có thể kéo dài gấp đôi, tức khoảng 10-15 phút tùy lứa tuổi. Sau thời gian này, trẻ cần được nghỉ giữa giờ, hoặc chuyển hoạt động, trước khi tập trung học tập trở lại.

Các nghiên cứu về khả năng tập trung của con người cũng cho thấy, khoảng thời gian để một người trưởng thành tập trung là từ 25-30 phút. Chính vì thế, kỹ thuật Pomodoro, một kỹ thuật nâng cao năng suất làm việc phổ biến, đã yêu cầu chia nhỏ thời gian làm việc thành từng phiên, mỗi phiên kéo dài 25 phút. Sau mỗi phiên thì người làm sẽ nghỉ 5 phút, và sau 4 phiên thì nghỉ 15-20 phút.

Như vậy, khi dạy trực tuyến thì giáo viên phải bố trí nghỉ giữa giờ ngay trong một tiết học, để trẻ không phải học liên tục quá 15-17 phút với bậc Tiểu học và 20-25 phút với bậc trung học. Trong mỗi khoảng nửa tiết đó, giáo viên lại phải chia thành các khoảng thời gian nhỏ hơn nữa, sao cho trẻ chỉ phải tập trung học trong khoảng 7-10 phút, rồi chuyển sang hoạt động khác trong 7-10 phút tiếp theo. Đó có thể là thực hành, làm bài tập hoặc trò chơi liên quan đến nội dung môn học. Trong đó, phần trò chơi môn học nên được sử dụng thường xuyên để giữ kết nối với trẻ.

Nếu không làm được như vậy, chỉ sau khi học 10-15 phút là trẻ sẽ mất tập trung và ngáp liên tục, thậm chí mắt chảy nước, mặt mũi bơ phờ. Nếu giáo viên thấy học sinh ngáp thì đó là chỉ dấu cho thấy bài học nhàm chán, hoặc thời lượng đã quá dài nên trẻ mất tập trung.

Trong trường hợp giáo viên không nhận ra, hoặc không quan tâm nên cứ tiếp tục dạy, thì trẻ được quyền xin phép đứng dạy để vận động trong khoảng 2-3 phút. Phụ huynh cũng nên nhắc con mình làm như vậy. Vì suy cho cùng, sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần là quan trọng nhất.

Đó là về thời lượng của một tiết học. Còn về thời lượng của buổi học thì theo tôi, mỗi buổi không nên học quá 2 tiết, tức mỗi ngày không nên quá 4 tiết. Cho trẻ học trực tuyến quá nhiều sẽ gây ra mệt mỏi và phản tác dụng.

4. Về nội dung và mục tiêu bài học: Khi triển khai dạy trực tuyến thì chương trình sẽ được rút gọn và điều chỉnh lại. Vì thế, nội dung và mục tiêu bài học cũng cần được thiết kế lại cho tinh và gọn. Khi đó, ưu tiên quan trọng nhất là giúp cho học sinh nắm được tinh thần chủ đạo của môn học, kiến thức lõi của từng chương/bài chứ không nên ôm đồm và sa quá nhiều vào chi tiết, gây rối và tốn thời gian không cần thiết.

Thường thì giáo viên sẽ bỏ qua phần hiểu và cảm được tinh thần chủ đạo của môn học, để đi vào các nội dung chi tiết theo phân phối chương trình cứng nhắc và định sẵn. Nhưng phần hiểu và cảm nhận tinh thần chung của môn học, của mỗi chương/bài rất quan trọng. Dạy học hay dở ra sao, thành bại thế nào, chính là ở chỗ người thầy có giúp học trò hiểu và cảm được cái ‘thần’ của môn học, của chương/bài hay không, chứ không phải ở việc hoàn thành hết các bài tập, hoặc học thuộc lòng nội dung của bài.

5. Về phương pháp giảng dạy: Cho đến nay chưa có phương pháp giảng dạy trực tuyến chính thức nào được nghiên cứu, kiểm chứng và đưa vào giảng dạy phổ biến. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, phương pháp dạy trực tuyến hiệu quả phải là phương pháp mang lại niềm vui khi dạy-học và giúp khắc phục được điểm yếu nhất của dạy học trực tuyến: Đó là sự suy giảm, hoặc đánh mất kết nối, giữa người dạy và người học.

Vì thế, tôi cho rằng, khi dạy học trực tuyến, thay vì áp đặt kiến thức và nội dung bài học, thì giáo viên cần sử dụng tiếp cận ĐỒNG KIẾN TẠO để giảng dạy. Đây là một cách tiếp cận, một con đường triển khai giáo dục, nhưng để đơn giản thì tôi thường gọi tắt là phương pháp đồng kiến tạo.

Theo đó, học sinh được trao quyền, trao cơ hội và tạo điều kiện để khám phá và hình thành nhận thức cho chính mình, bao gồm: các tri thức cụ thể, kỹ năng tư duy, nhân sinh quan, thế giới quan, thái độ sống….

Nói cách khác, học sinh phải được quyền tham gia quá trình hình thành, thảo luận, kiểm chứng, lựa chọn, xác lập… những gì tồn tại trong đầu óc của chính mình và làm chủ nó.

Thông qua đó, học sinh từng bước tạo ra chính mình. Vì tạo ra chính mình nên luôn được sống thật với chính mình. Vì luôn được sống thật với chính mình nên luôn vui vẻ và hạnh phúc, từ đó có được niềm vui và sự háo hức trong học tập.

Như thế, tiếp cận đồng kiến tạo, hay phương pháp đồng kiến tạo, giúp tạo ra một môi trường giáo dục đích thực mà ở đó cả thầy và trò được dạy thật, học thật, thi thật và sống thật, trong sự tương thông, chia sẻ và tôn trọng. Điều này tạo ra sự vui vẻ, hạnh phúc và sự háo hức trong hành trình trình khám phá tri thức và hình thành nhận thức, tức từng bước tạo ra chính mình.

Những kinh nghiệm của tôi cho thấy, tiếp cận đồng kiến tạo không chỉ hiệu quả khi giảng dạy trực tiếp, mà khi áp dụng và dạy học trực tuyến, cách tiếp cận này cũng phát huy tác dụng rất tốt.

Vì lẽ đó, sử dụng tiếp cận đồng kiến tạo là một trong những giải pháp giúp nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt khi phải dạy học trực tuyến khi nghỉ tránh dịch này.

Giáp Văn Dương
---
Ghi chú: Bài đã đăng trên Zing.vn, ngày 25/2/2021.

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2020

Vì sao giảng dạy môn Tiếng Anh thất bại?


Mới đây, Tổ chức Education First chuyên xếp hạng mức độ thành thạo tiếng Anh của các quốc gia đã xếp hạng Việt Nam ở mức 65/100 quốc gia, tức tụt 13 bậc so với năm 2019.

Qua đó chúng ta thấy: Chất lượng dạy và học Tiếng Anh đang là một trong những điểm đáng lo ngại nhất của giáo dục Việt Nam.

Quan sát phổ điểm thi tốt nghiệp môn Tiếng Anh trong khoảng 20 năm qua, tôi thấy năm nào điểm trung vị cũng dao động quanh mức 4 – 5 điểm.

Tiếp xúc và tuyển sinh các sinh viên mới tốt nghiệp đại học, tôi thấy trình độ Tiếng Anh của phần lớn các em cũng không cải thiện nhiều so với mười năm về trước.

Chuyện gì đã xảy ra vậy, khi biết bao nguồn lực của gia đình và xã hội được đổ vào môn Tiếng Anh? Chưa kể Bộ GD & ĐT còn có cả một đề án rất lớn về dạy và học ngoại ngữ triển khai trong suốt 12 năm qua mà kết quả cũng không cải thiện được bao nhiêu.

Vậy đâu là nguyên nhân, và liệu có cách nào để khắc phục tình trạng này?

Để trả lời câu hỏi này, có lẽ phải viện dẫn đến “Nguyên lý Anna Karenina” (theo cách nói của J. Diamond), lấy cảm hứng từ câu đầu tiên trong tiểu thuyết cùng tên của Tolstoy, để đưa ra một nhận định khái quát: Các quốc gia thành công trong việc dạy Tiếng Anh đều giống nhau, còn các quốc gia thất bại trong việc dạy Tiếng Anh thì thất bại theo cách của riêng mình.

Thật vậy, để thành công trong việc dạy Tiếng Anh trong hệ thống giáo dục, một quốc gia phải đảm bảo thành công đồng thời các yếu tố sau:
  1. Có tinh thần cởi mở và đón nhận Tiếng Anh. Không kỳ thị Tiếng Anh và những giá trị và đặc trưng văn hóa mà Tiếng Anh mang trong mình.
  2. Có chính sách giáo dục và thi cử cần hiệu quả và có tác dụng thúc đẩy đối với việc học môn Tiếng Anh trong nhà trường và ngoài xã hội;
  3. Có các bộ sách giáo khoa, giáo trình đủ tốt để giảng dạy trong nhà trường và ngoài xã hội;
  4. Có đội ngũ giáo viên đủ giỏi và đủ hiểu về dạy và học môn Tiếng Anh để triển khai việc giảng dạy;
  5. Các đặc trưng ngôn ngữ môn Tiếng Anh như phát âm, cấu trúc ngữ pháp không được xung đột quá mức với các đặc trưng của tiếng mẹ đẻ;
  6. Có đủ nguồn lực để đầu tư cho việc dạy và học Tiếng Anh đủ đạt ngưỡng nhất định để có thể sử dụng;
  7. Có môi trường khuyến khích việc sử dụng Tiếng Anh trong học tập và làm việc, cả trong gia đình, nhà trường và xã hội;
  8. Có cơ chế tưởng thưởng và thăng tiến cho những người giỏi Tiếng Anh và có thể sử dụng Tiếng Anh trong công việc, trong cả khu vực tư và khu vực công;
Để thành công trong việc dạy môn Tiếng Anh thì phải thành công đồng thời cả 8 yếu tố này. Còn để thất bại, thì chỉ cần thất bại một vài trong số 8 yếu tố trên là sẽ thất bại. 

Qua góc nhìn đó, ta thấy: Chúng ta chưa thành công nhiều trong số các yếu tố nêu trên. Có thể điểm qua như sau:
  • Chất lượng nhân sự liên quan đến các chương trình Tiếng Anh còn yếu. Những người làm chính sách dạy và học Tiếng Anh, chỉ đạo biên soạn SGK môn Tiếng Anh cũng chưa thực sự giỏi và hiểu cách dạy và học Tiếng Anh.
  • Cách triển khai các chương trình dạy và học môn Tiếng Anh vẫn tiến hành như các đề án giải ngân, nặng tính hình thức và phong trào mà ít xét đến các hiệu quả thực tế.
  • Sách giáo khoa dạy môn Tiếng Anh trong hệ thống giáo dục phổ thông còn chịu quá nhiều ràng buộc trong quá trình biên soạn nên chất lượng rất kém.
  • Cách thức thi cử ở phổ thông, đặc biệt là thi tốt nghiệp THPT và thi vào Đại học, tạo điều kiện cho các học sinh không cần khá ngoại ngữ vẫn có thể thi đỗ nên không cần học.
  • Đội ngũ giáo viên dạy môn Tiếng Anh còn thiếu và yếu. Nhiều thầy cô chỉ có thể dạy từ vựng và ngữ pháp chứ không thực sự sử dụng được Tiếng Anh trong giao tiếp và trong công việc.
  • Thời lượng của môn học Tiếng Anh trong nhà trường còn quá ít để có thể đạt ngưỡng có thể sử dụng được Tiếng Anh trong đời sống thực.
  • Môi trường xã hội chưa thực sự khuyến khích việc sử dụng Tiếng Anh trong học tập và làm việc hàng ngày.
  • Cơ chế tưởng thưởng và thăng tiến cho nhân sự thành thạo Tiếng Anh còn nặng tính hình thức và chưa rõ ràng, nên thay vì giỏi Tiếng Anh, nhân sự chỉ cần trình chứng chỉ môn học là có thể được.
Vậy làm cách nào để có thể cải thiện tình trạng này? Nói hết lẽ thì sẽ rất dài, nhưng ngắn gọn thì có thể tóm lược trong một câu: Cần có chiến lược và chính sách đưa Tiếng Anh vào sử dụng trong học tập và làm việc hàng ngày. 

Điều này có nghĩa: Với nhà trường, cần cho phép sử dụng các bộ sách giáo khoa Tiếng Anh để học tập hàng ngày. Với báo chí cần sử dụng Tiếng Anh để truyền thông. Với công sở, cần sử dụng Tiếng Anh để làm việc và có cơ chế tưởng thưởng xứng đáng.

Nếu không, việc dạy và học Tiếng Anh sẽ chỉ như dạy và học một môn học thông thường, tập trung vào việc nhớ và hiểu từ vựng và ngữ pháp, chứ không phải là một thực hành ngôn ngữ hàng ngày, trong học tập và làm việc, để đạt được sự thành thạo như mong đợi.

Giáp Văn Dương
---

Một phiên bản rút gọn của bài này đã đăng trên báo Thanh Niên, ngày 8/12/2020.

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2020

Khai mạc Trường hè Khoa học Việt Nam lần thứ 8

Ngày hôm nay, 28/11/2020, Trường Khoa học Việt Nam 2020 - VSS'08 đã chính thức khai mạc tại Trung tâm quốc tế Khoa học và giáo dục liên ngành ICISE với chủ đề "Vượt lên biến động".

Hy vọng rằng các bạn học viên sẽ có một khoảng thời gian học tập bổ ích với tinh thần nhiệt huyết nhất từ những điều các anh/chị giảng viên chia sẻ trong các buổi học.




---
Nguồn: Trường Khoa học Việt Nam 2020 - VSS'08

Chúc mừng con gái nhập trường!

Thay vì du học, con đã chọn học ở Việt Nam. Thay vì bay bổng với Philosophy hoặc Education Science như dự định, thì con lại đi trên mặt đất với Business Administration.


Với bố mẹ, việc con chọn học ở nhà là một điều tốt lành. Con đã có những trải nghiệm của cuộc sống bên ngoài, đã có bạn bè và kết nối, thì khi trở về, điều quan trọng hơn là thấu hiểu cuộc sống ở đây và thấm đẫm nền văn hóa của mảnh đất này.

Những điều đó cần thời gian và trải nghiệm, cần kết nối với gia đình và tổ tiên, văn hóa và lịch sử. Như men rượu nồng, không thể một sớm một chiều mà có được.

Nhớ lại ngày nào khi gia đình mình trở về, con tiếng Việt còn chưa thạo, đã gặp rất nhiều khó khăn để hội nhập, không chỉ trong việc học mà còn cuộc sống nói chung.

Việc học của con có lúc tưởng chừng đứt gánh giữa đường. Nhưng con đã từng bước vượt qua, từng bước hội nhập, và đã bắt đầu tập sự làm được một vài điều hữu ích.

Những kết quả khiêm tốn đó, một phần là nhờ sự cố gắng của con. Phần còn lại là nhờ sự động viên của gia đình và các thầy cô, bè bạn.

Xin cảm ơn các thầy cô ở các trường mà con đã đi qua: Tô Hoàng, Vinschool, HN-Amsterdam, đã dạy dỗ con trong suốt những năm qua.


Cảm ơn gia đình đã luôn ở bên cạnh. Cảm ơn các bạn đã đồng hành và trưởng thành cùng con trong những năm tháng học trò.

Từ ngày hôm nay, cuộc sống là của riêng con. Câu chuyện cuộc đời sẽ do con tự viết, hay dở thế nào sẽ do con tự chịu trách nhiệm.

Bố mẹ không mong muốn gì hơn là con khỏe mạnh, duy trì nội quy và văn hóa gia đình, sớm tìm được con đường đi riêng của mình và biết cách tạo ra chính mình.

Trên hành trình đó, con vẫn có gia đình, thầy cô và bè bạn ở bên cạnh để chia sẻ; có những dự định tương lai và khát vọng của tuổi trẻ để dẫn dắt.

Chúc con sang chặng đường mới bình an, may mắn và hạnh phúc!
---
P/S: 1. Con có thể trở về ăn cơm với bố mẹ bất cứ lúc nào. 2. Cuộc đời có nhiều bất ngờ. Việc học của con cũng không ngoại lệ. Cứ ngỡ giờ này, con đang học một trường bên Mỹ. Ai ngờ Covid-19 đã làm thay đổi mọi kế hoạch. 

Về một bi kịch mới trong giáo dục

 GIÁP VĂN DƯƠNG 08.06.2020, 05:54

TTCT - Những vụ việc căng thẳng, xung đột gần đây liên quan tới học phí trong các trường quốc tế, trong quan hệ giữa giáo viên - học sinh - phụ huynh ở nhiều nơi... là những chỉ dấu rõ ràng cho một mối quan hệ đã có những trục trặc nghiêm trọng ở bên trong. Nguồn cơn của nó từ đâu?

Về một bi kịch mới trong giáo dục
 

Hai năm trở lại đây, tôi thường xuyên theo dõi thông tin về các trường học và mối quan hệ giữa phụ huynh - nhà trường, nghĩ về mối quan hệ này với những thăng trầm đủ cung bậc.

Trước đây, mối quan tâm lớn nhất của tôi là những vấn đề nội tại của giáo dục, như triết lý, chương trình và những chuyển động trong chính sách giáo dục, thì nay còn có thêm những điều cụ thể, gần gũi hằng ngày, nhất là mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà trường. Lý do là hai năm gần đây, tôi trực tiếp làm giáo dục theo nghĩa cụ thể nhất: tham gia mở trường học ngoài công lập.

Trải nghiệm của tôi về giáo dục, vì thế cụ thể và trực tiếp hơn trước rất nhiều. Những vấn đề về giáo dục mà tôi phải xử lý cũng mở rộng hơn, bao gồm cả những chuyện cơm - áo - gạo - tiền hằng ngày. Đó là những trải nghiệm cá nhân quý giá giúp tôi bước thẳng vào thực tế mà bất cứ nhà giáo dục hiện đại nào cũng phải đối mặt, nhà quản lý giáo dục nào cũng phải quan tâm, và phụ huynh nào cũng phải bận tâm.

Tôi thấy được, từ khoảng cách thật gần, những diễn biến trong mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà trường ở khu vực giáo dục ngoài công lập. Đứng giữa mối quan hệ đó, tôi thậm chí có lúc lâm vào thế éo le, không thể bảo vệ quan điểm của mình giữa các xung đột về lợi ích.

May mắn là tôi vẫn được phụ huynh yêu quý và tin tưởng. Tất cả, sau cùng, giúp tôi hiểu được: mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà trường là mối quan hệ sống còn với các trường ngoài công lập. Mối quan hệ này có tốt thì trường mới ổn định và phát triển bền vững được.

Vì vậy, tôi sẽ tập trung vào diễn biến gần đây của mối quan hệ này, như đã quan sát được, để nhận diện cội rễ một vấn đề mà tôi cho là lệch lạc trong giáo dục, hi vọng ta sẽ cùng nhau tìm được cách giải quyết.

Đã từng thiêng liêng

Mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà trường là mối quan hệ rường cột, cơ bản trong xã hội và trong mọi nền giáo dục. Với các trường ngoài công lập, như trường tư thục và quốc tế, mối quan hệ này lại càng trở lên quan trọng.

Vì sao? Vì các trường đã và đang phải cạnh tranh nhau gay gắt để tồn tại và phát triển. Phụ huynh là người giữ quyền tối thượng trong việc lựa chọn trường cho con em mình học. Họ lựa chọn bằng đầu. Và họ còn có thể lựa chọn bằng chân: khi không ưng ý, họ chuyển con sang trường khác.

Vì thế, chất lượng mối quan hệ phụ huynh - nhà trường này quyết định sự sống còn của một ngôi trường và rất quan trọng với chất lượng giáo dục. Lý do là nó ảnh hưởng và trực tiếp góp phần tạo ra văn hóa học đường của nhà trường, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý của giáo viên và học sinh, đến vận hành của nhà trường.

Nhìn lại quá khứ, ta thấy từng có một thời gian rất dài, quan hệ giữa phụ huynh và giáo viên/nhà trường là mối quan hệ thiêng liêng. Phụ huynh tin tưởng hoàn toàn các thầy cô và nhà trường, gần như giao phó việc giáo dục con cái mình cho nhà trường mà không cần kiểm tra và dè chừng lẫn nhau.

Chúng ta có thể cảm nhận được sự thiêng liêng này trong mấy chữ “Tôn sư trọng đạo” hay trong các nhận định xã hội như “Nghề giáo là nghề cao quý nhất”, thậm chí trong cả những câu ca dao đậm chất dân gian như “Muốn sang thì bắc cầu Kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”.

Nhà trường khi đó là của các thầy cô. Việc giáo dục tại trường là do các thầy cô chịu trách nhiệm. Phụ huynh chỉ cần chọn trường tốt hoặc đơn giản là gần nhà rồi gửi con đến trường, hầu như không có nhu cầu can thiệp sâu vào chuyên môn và việc quản trị vận hành nhà trường.

Nhưng mấy năm trở lại đây, mối quan hệ này ngày càng gặp nhiều sóng gió. Sự bất đồng giữa phụ huynh và nhà trường càng ngày càng nới rộng. Niềm tin của hai bên ngày càng suy giảm. Lẽ ra phải hợp tác với nhau để đi cùng trên một con đường thì phụ huynh và giáo viên/nhà trường như đang bị đẩy sang hai chiến tuyến.

Thay vì là đối tác giáo dục, ở nhiều nơi phụ huynh và nhà trường lại đối đầu nhau trong nhiều vấn đề, thậm chí sẵn sàng đưa nhau ra tòa phân xử đúng sai, thua thắng.

Chúng ta có thể cảm nhận được sự bất đồng và mất niềm tin vào nhau này qua các cuộc họp phụ huynh đầy căng thẳng, các cuộc biểu tình của phụ huynh trước cổng trường, các ồn ào trên mạng xã hội, và có thể cả những đắng cay mà cả hai bên đều đang gánh chịu nhưng không phải lúc nào cũng có thể giãi bày.

Hệ quả là một môi trường giáo dục bị biến dạng, văn hóa học đường bị ảnh hưởng, một bi kịch mới trong giáo dục bắt đầu hình thành. Đó là bi kịch về sự xuống cấp của một mối quan hệ đã từng là thiêng liêng, nay bỗng suy thoái thành chuyện giao kèo mua bán đơn thuần.

Sự thay đổi đó làm cả người trong cuộc và ngoài cuộc, cả người quan tâm đến giáo dục, thấy đau lòng.

Nguồn cơn của vấn đề

Nhiều người tự đặt câu hỏi và đi tìm câu trả lời cho nguồn cơn của vấn đề, xem vì đâu mà mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà trường ở một số nơi lại bị biến dạng đến kỳ quặc như vậy? Người thì cho rằng đó là do thời đại kim tiền, đạo đức xã hội suy đồi nên lan cả vào nhà trường, làm hỏng môi trường giáo dục.

Người lại bảo là do nhà trường tận thu, chỉ biết kinh doanh, thiếu cam kết, nuốt lời với phụ huynh nên mới thế. Người khác lại nói là do phụ huynh ngày càng ghê gớm, lúc nào cũng thích giám sát, can thiệp vào công việc chuyên môn và quản lý của nhà trường.

Những ý kiến này tựu trung đều quy nguyên nhân về sự yếu kém, hoặc quá quắt, hoặc bất cập, của một trong các bên trực tiếp liên quan, đó là phụ huynh hoặc nhà trường. Trong trường hợp không thể quy kết cho bên nào một cách rõ ràng thì quy chung chung cho xã hội hoặc tình trạng đạo đức suy đồi.

Là một người làm giáo dục, tôi cho rằng đây chỉ là bề nổi của câu chuyện, mỗi người đứng ở một góc nhìn, ắt cho ra các nhận định khác nhau, dẫn đến phản ứng khác nhau khi phải đối mặt với mối quan hệ đầy căng thẳng này.

Nguyên nhân thực sự của tình trạng này bắt nguồn từ một thứ trừu tượng hơn, vì thế cũng khó chữa hơn rất nhiều: Đó là một quan niệm đang phổ biến trong cả phụ huynh và những người làm giáo dục, rằng giáo dục là một dịch vụ.

Nói cách khác, cả phụ huynh và những người quản lý nhà trường đều cho rằng nhà trường là nơi cung cấp dịch vụ giáo dục cho học sinh, phụ huynh là người trả tiền cho con em mình sử dụng dịch vụ đó.

Chúng ta có thể thấy điều này hiển hiện rõ ràng trong các bản thỏa thuận nhập học hoặc các quy định tài chính của nhà trường. Ở đó thường xuyên xuất hiện điều khoản có nội dung: Nếu phụ huynh vi phạm điều A, điều B (ví dụ: đóng học phí và các khoản phí thiếu và trễ hạn) thì nhà trường sẽ dừng cung cấp dịch vụ giáo dục cho học sinh.

Ngay cả ở cấp chính sách vĩ mô, như các thỏa thuận khi gia nhập WTO, cũng có những điều khoản liên quan đến việc mở cửa thị trường giáo dục.

Như thế, bản thân các nhà quản lý của trường học, và cả phụ huynh, đã cho rằng giáo dục là một thị trường, một dịch vụ, tương tự các dịch vụ thông thường khác trên thị trường.

Thoạt nghe thì điều này có vẻ có lý. Và trên thực tế, nhiều người đã đấu tranh cho sự tồn tại của thị trường giáo dục, coi giáo dục như một dịch vụ đặc biệt, vì thế cần tuân thủ các quy luật của thị trường.

Vấn đề bắt đầu xuất hiện khi người ta quên hai chữ “đặc biệt”, chỉ còn hai chữ “dịch vụ”, tức coi giáo dục là một dịch vụ thuần túy, tương tự các dịch vụ thông thường khác. Thiếu hai chữ “đặc biệt” đó, giáo dục chuyển sang một hướng hoàn toàn khác. Và bi kịch mới trong giáo dục, trong trường hợp này là sự đổ vỡ của mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà trường, bắt đầu xuất hiện.

Về phía nhà trường, do quan niệm giáo dục là một dịch vụ nên hiển nhiên nhà trường sẽ mong muốn cung cấp một dịch vụ tốt nhất, phục vụ tốt nhất cho các khách hàng của mình. Điều này hoàn toàn đúng với các dịch vụ thông thường, nhưng với giáo dục thì lại sai, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Về một bi kịch mới trong giáo dục
 

Không phải là dịch vụ thuần túy

Khi coi nhà trường là nơi cung cấp dịch vụ giáo dục, các nhà quản lý, một cách tự nhiên và bản năng, muốn kiểm soát chất lượng dịch vụ một cách toàn diện, sao cho có được chất lượng dịch vụ tốt nhất và có rủi ro thấp nhất.

Bằng chứng cho điều này là các nhà quản lý giáo dục bắt đưa các công cụ quản lý doanh nghiệp vào trong nhà trường như KPI, hệ thống tiêu chuẩn, các bộ quy trình vận hành... Ngôn ngữ quản trị doanh nghiệp và quản lý giáo dục bắt đầu xuất hiện dày đặc trong ngôn ngữ quản trị của nhà trường.

Với một doanh nghiệp kinh doanh thuần túy thì điều này là tốt, đương nhiên phải thực hiện thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại.

Nhưng với một trường học thì không hẳn.

Vì sao? Vì khi bắt đầu quản lý dịch vụ giáo dục theo cách quản lý các dịch vụ thông thường, các nhà giáo và quản lý trong nhà trường sẽ có xu hướng kiểm soát và giám sát tất cả mọi thứ, qua thanh tra kiểm tra, quy chế quy trình, hệ thống thông tin, hệ thống báo cáo, hệ thống các camera ở khắp mọi nơi (kể cả trong lớp học).

Mục đích ban đầu của việc kiểm soát này là mang đến một dịch vụ có chất lượng tốt nhất, an toàn nhất, có thể là một mục đích tốt ở ý định ban đầu. Nhưng khi triển khai thực tế, việc kiểm soát toàn diện này đã làm cho sự tự do trong nhà trường suy giảm và biến mất, khiến nhà trường trở thành một đế chế quan liêu và độc đoán, thậm chí độc tài với chính giáo viên và nhân viên của mình.

Dưới bàn tay kiểm soát của sự độc đoán này, không gian hoạt động của các bên liên quan, như học sinh, phụ huynh, thậm chí cả giáo viên, bị thu hẹp hết mức có thể. Nhà trường độc chiếm không gian hoạt động giáo dục này, nhân danh kiểm soát chất lượng dịch vụ, đẩy các bên liên quan vào thế bị động và phải tuân thủ.

Nhà trường khi đó trở thành một cỗ máy hoạt động theo quy chế quy trình, với sự hỗ trợ của công nghệ, trở thành chuyên nghiệp trong quản lý vận hành. Nói một cách hình ảnh, nhà trường tự suy thoái để trở thành một “lò đóng gạch” - có thể chuyên nghiệp, hiện đại nhưng không phải là một trường học đúng nghĩa. Chất lượng giáo dục khi đó bắt đầu đi xuống. Và giáo dục bắt đầu suy đồi. Những bi kịch mới của giáo dục bắt đầu xuất hiện.

Giáo dục cần tự do, cần không gian cho tất cả các bên liên quan tham gia và thể hiện mình. Khi một bên độc chiếm không gian hoạt động của các bên còn lại thì tự do biến mất, giáo dục không còn là giáo dục nữa dù nhân danh bất cứ mục đích tốt đẹp nào.

Cái sai này các nhà quản lý giáo dục sẽ không tự nhìn ra được. Chỉ có các nhà giáo dục mới có thể nhìn ra. Nhưng rất tiếc, thường đây là hai người khác nhau. Vì khi có xung đột về quan điểm, nhà giáo dục thường thua nhà quản lý, hoặc thua nhà đầu tư trong các biểu quyết. Đây cũng là một thực tế, một điều đau lòng cho các nhà giáo dục chân chính.

Về phía phụ huynh, do đơn giản coi giáo dục là một dịch vụ mình trả tiền để cho con thụ hưởng, nên một cách hiển nhiên, họ cũng đòi hỏi chất lượng dịch vụ tương xứng đồng tiền đã bỏ ra. Phụ huynh khi đó không còn là một phụ huynh đúng nghĩa, mà là một khách hàng đang trả tiền cho một dịch vụ trên thị trường. Và người hưởng dịch vụ đó là con mình.

Do không trực tiếp thụ hưởng nên phụ huynh sẽ có xu hướng đo chất lượng dịch vụ thông qua các chỉ số định lượng, như số tiết học trên lớp mỗi môn học, số bữa ăn trong ngày, số phiếu bài tập mà con nhận được mỗi tuần, số tin nhắn mà thầy cô gửi cho phụ huynh cập nhật tình hình học tập của con...

Đây không là gì khác, mà chính là một dạng KPI, một hình thức thanh tra kiểm soát chất lượng dịch vụ từ phía phụ huynh đối với nhà trường, thông qua các chỉ số dễ nhìn, dễ thấy, dễ định lượng.

Ngoài các chỉ số định lượng này, một biểu hiện khác về việc coi giáo dục như một dịch vụ là việc phụ huynh quan tâm quá mức, kỳ vọng thái quá vào các loại chứng chỉ và chuẩn đầu ra. Phụ huynh coi đây như một loại đo lường chất lượng dịch vụ giáo dục mà con họ đang thụ hưởng.

Tuy nhiên, xét về bản chất, do mỗi người mỗi khác nên không có một bộ chuẩn đầu ra hay chuẩn chất lượng dịch vụ nào phù hợp tất cả mọi người. Cũng không có một loại dịch vụ nào có thể làm hài lòng tất cả mọi người. Trong trường hợp này, những người trả tiền lại không phải là người thụ hưởng dịch vụ, sự bất đồng quan điểm về chất lượng dịch vụ càng dễ xảy ra, đương nhiên sẽ xảy ra.

Đó là lý do vì sao, dù cả hai bên đều cố gắng và cam kết với nhau nhiều đến bao nhiêu chăng nữa, giấy trắng mực đen rõ ràng đến thế nào chăng nữa, trước sau gì hai bên cũng sẽ thất vọng về nhau.

Vì khi đó, họ đang nói câu chuyện về việc cung cấp và thụ hưởng một loại dịch vụ nào đó, cùng các quy trình đo lường và kiểm tra chất lượng dịch vụ đó, thứ dịch vụ mà họ gọi tên là giáo dục, chứ không phải là giáo dục thực sự.

Như thế, gốc rễ của những bi kịch mới trong giáo dục, như sự đổ vỡ trong mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà trường, không xuất phát từ một phía cụ thể nào, mà từ một quan niệm tưởng chừng là tiến bộ, rằng giáo dục là một dịch vụ, mà quên mất một điều, giáo dục là giáo dục, không phải là một dịch vụ thông thường như bao dịch vụ khác trên thị trường.■


"Trẻ con thường nhìn vào cách người lớn hành xử để bắt chước. Cả thầy cô và bố mẹ sẽ rất khó dạy con phải sống hòa hợp, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác để giải quyết vấn đề, nếu bản thân họ không làm được như vậy".

TS Giáp Văn Dương
---
Nguồn: Tuổi trẻ cuối tuần

Quận Hai Bà Trưng có thêm trường tiểu học Times School

Thứ bảy, 13/6/2020, 09:00

Trường Tiểu học Times School dự kiến sẽ tuyển sinh lớp 1, 2, 3, chuẩn bị cho khai giảng năm học đầu tiên 2020-2021.

Tọa lạc tại ngõ 622 phố Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội, trên khuôn viên rộng 4.200m2, được đầu tư cơ sở vật chất đồng bộ và hiện đại, Trường Tiểu học Times School là một trong những địa chỉ giáo dục để phụ huynh và học sinh lựa chọn trong năm học mới.

Trường có 25 phòng học tiêu chuẩn, hệ thống các phòng chức năng và phòng học chuyên biệt, hai sân bóng rổ, một sân bóng đá mini, bếp ăn, canteen và dịch vụ học đường chuyên nghiệp, đảm bảo phục vụ nhu cầu giảng dạy của giáo viên, học tập và vui chơi của học sinh bậc tiểu học.

Toàn cảnh trường Tiểu học Times School.

Triết lý giáo dục

Triết lý giáo dục của trường là "Đào tạo con người tự chủ, sống hạnh phúc, làm hiệu quả". Điều này định hướng và chi phối mọi hoạt động giáo dục của nhà trường, bao gồm cả việc đầu tư cơ sở vật chất, nội dung chương trình, đội ngũ giáo viên, dịch vụ và văn hóa học đường.

"Sau khi tốt nghiệp và rời ghế nhà trường, triết lý giáo dục này sẽ chuyển thành mục tiêu sống của học sinh Times School, giúp các em tự chủ trong cuộc sống, có khả năng sống hạnh phúc và làm việc hiệu quả", đại diện ban lãnh đạo trường cho hay.

Cùng triết lý giáo dục, Times School chọn bốn giá trị phổ quát Chân – Thiện - Mỹ - Hòa làm bộ giá trị cốt lõi. Trong đó, "Chân" là tiêu chuẩn hướng đến của khoa học và nhận thức; "Thiện" là tiêu chuẩn hướng đến của đạo đức và hành vi; "Mỹ" là tiêu chuẩn hướng đến của nghệ thuật và lối sống; "Hòa" là tiêu chuẩn hướng đến của văn hóa và kỹ năng sống. 

Bộ giá trị này sẽ góp phần tạo ra nền tảng tinh thần của nhà trường, trở thành khung tham chiếu cho việc vận hành và ứng xử trong nhà trường.


Học sinh Times School hào hứng với tiết học về khoa học.

Mô hình giáo dục

Times School triển khai mô hình Giáo dục Khai phóng để hiện thực hóa mục tiêu giáo dục và bộ giá trị cốt lõi. Theo đó, tinh thần chủ đạo của mô hình giáo dục khai phóng này là "khai mở nhân tính - giải phóng tiềm năng".

Khai mở nhân tính có nghĩa học sinh của trường sẽ được trải nghiệm và đào tạo, huấn luyện suốt hành trình học để làm người, hiểu rõ bản thân và hình thành những phẩm chất cốt yếu của con người nhân bản trong thời đại mới, bên cạnh việc học kiến thức và kỹ năng trong các chương trình giáo dục.

Trên cơ sở đã được khai mở nhân tính và hiểu rõ bản thân đó, học sinh sẽ được tạo điều kiện để giải phóng tiềm năng, nhằm phát huy được hết thế mạnh, hướng đến việc tạo ra những con đường riêng cho mình sau này.


Trường tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí cho học sinh. Ảnh minh hoạ

Phương pháp giáo dục

Phương pháp giáo dục chủ đạo của Times School là Đồng kiến tạo. Theo đó, sự trưởng thành của học sinh là sản phẩm đồng kiến tạo của gia đình và nhà trường, kết quả học tập của học sinh là sản phẩm đồng kiến tạo của cả thầy và trò.

Nhờ phương pháp này, học sinh sẽ không học tập theo lối nghe giảng giải và ghi nhớ hay ôn luyện "văn mẫu, toán dạng", mà được trải nghiệm, khám phá và thảo luận để tự hình thành tri thức, kỹ năng và thế giới quan của chính mình.

Nhờ đó, học sinh sẽ có được niềm vui đến trường, các thầy cô sẽ có niềm vui giảng dạy, còn gia đình có cơ hội đồng hành cùng nhà trường suốt hành trình giáo dục của con em.

Giáo viên hướng dẫn học sinh cách dùng thìa, đũa... trong bữa ăn. Ảnh minh hoạ

Văn hóa học đường

Văn hóa học đường của Times School được xây dựng trên hai thành tố chính: Hòa nhã và Chuyên nghiệp. Hòa nhã chỉ sự thân thiện, nhã nhặn, đáng mến trong giao tiếp và ứng xử giữa người với người trong môi trường học đường. Chuyên nghiệp chỉ tiêu chuẩn làm việc, vận hành, học tập và giảng dạy của học sinh, giáo viên, nhân viên và đối tác làm việc với nhà trường.

Hai nội dung này sẽ được thực hành và bồi đắp hàng ngày, để cùng với mục tiêu, giá trị, mô hình và phương pháp giáo dục của nhà trường, tạo ra một ngôi trường Times School bản sắc và hiệu quả, mọi người được cùng nhau sống hạnh phúc.

---

TS Giáp Văn Dương: Có sách giáo khoa mới, nhưng vẫn cần triết lý giáo dục tường minh

10/09/2020 | 09:28

(Ngày Nay) - Tiến sĩ Giáp Văn Dương là cử nhân Đại học Bách Khoa Hà Nội sau đó lấy bằng Tiến sĩ tại Đại học Công nghệ Vienna (Áo) năm 2013. Tiến sĩ Giáp Văn Dương có nhiều năm học tập, làm việc và nghiên cứu về các vấn đề giáo dục cả trong và ngoài nước. Hiện anh đang công tác tại một trường tư thục ở Hà Nội. 


TS Giáp Văn Dương

Ngày Nay đã có buổi trò chuyện với Tiến sĩ Giáp Văn Dương về 5 bộ sách giáo khoa lớp một mới của Việt Nam vừa được phát hành.

Phóng viên (PV): Năm nay, 5 bộ sách giáo khoa mới dành cho Lớp 1 chính thức được đưa vào giảng dạy. Các địa phương có thể tuỳ chọn bộ sách phù hợp nhất. Anh nhìn nhận sự kiện đặc biệt này như thế nào?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương: Là một người làm giáo dục, đang trực tiếp làm việc tại một trường tư thục tại Hà Nội, tôi rất vui vì năm nay có 5 bộ sách giáo khoa (SGK) được đưa vào sử dụng. Nói nôm na thì năm nay có năm món để các trường chọn, thay vì chỉ một món như mọi năm. Như thế là vui, là tốt hơn rất nhiều (cười).

Chất lượng các bộ SGK năm nay cũng hơn hẳn các năm trước. Không chỉ về nội dung, mà hình thức cũng đẹp hơn. Tuy còn xa mới được đẹp như SGK của các nước, nhưng như vậy cũng đã cải thiện rất nhiều. Xin lưu ý, sách đẹp rất quan trọng. Muốn trẻ thích học, thì sách phải đẹp. SGK của ta trước đây, và hiện vẫn tiếp tục sử dụng cho khối 2 trở lên, in ấn và minh họa quá xấu.

Trong thời đại cạnh tranh của đủ loại media và truyện tranh, thì SGK lại càng phải đẹp thì mới thu hút được trẻ học. Tôi phát hiện ra điều này khi thấy con mình trước đây rất thích mang sách ra tự học khi còn ở nước ngoài, nhưng về VN thì không thế nữa. Hỏi tại sao, thì con nói vì sách quá xấu.

Vì thế, khi cầm các bộ SGK của Lớp 1 năm nay trên tay, tôi rất vui, và hy vọng đó là một cú hích quan trọng để cải thiện chất lượng giáo dục trong những năm tới.

PV: Tôi cũng là một phụ huynh học sinh, thú thực khi nhìn vào số lượng đầu sách, tôi thấy có mừng nhưng cũng thấy băn khoăn. Sách nhiều quá, có 8 môn, 9 quyển. Năm nay có cả sách dạy thể chất, dạy Trải nghiệm, Âm nhạc, Mỹ thuật, Đạo đức… Liệu với đầu sách như thế, khối lượng lý thuyết nhiều như thế, học sinh lớp một có kịp đọc hết không?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương: Nói chung, số lượng đầu sách cho mỗi bộ cũng không nhiều hơn các năm trước. Lý do là các bộ sách cần phải tải đủ chương trình giáo dục phổ thông đã được ban hành. Số lượng các môn là cố định.

Nội dung cơ bản cũng như vậy. Nếu có đầu sách nào trước đây không có, như đầu sách về hoạt động trải nghiệm hay giáo dục thể chất chẳng hạn, thì là do trước đây thiếu. Vì thế, năm nay có các đầu sách này sẽ có thêm lựa chọn cho giáo viên tham khảo. Không nên lo lắng, băn khoăn vì nhìn chung trẻ em thích học bằng cách xem hình vẽ, mà hình vẽ khá đẹp nên đây là một điều tốt cho trẻ.

Việc chọn sách năm nay cũng có một chi tiết thú vị, đó là: Với khối tư thục thì các trường có thể chọn sách cho riêng mình nên mỗi trường có thể chọn một bộ, hoặc kết hợp các đầu sách hay của các bộ khác nhau. Riêng với trường công thì việc chọn sách có thể chịu nhiều ràng buộc hơn nên không được tự do nhu trường tư. Nhưng về đại thể, nếu thực đơn có nhiều món để chọn thì tất nhiên vẫn vui hơn là chỉ có một món phải không nào?


PV: Được biết anh đang công tác tại một trường tư thục, hiện nay, trường của anh sử dụng sách giáo khoa như thế nào, có sự khác nhau căn bản nào giữa SGK của trường tư thục so và SGK của trường công lập tại Việt Nam?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương: Tôi hiện làm việc tại Trường Tiểu học Times School. Chúng tôi chọn bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống” làm SGK cho Lớp 1 năm học mới. Đây là bộ sách được chúng tôi đánh giá cao, và tin tưởng sẽ góp phần quan trọng trong việc tạo ra chất lượng giáo dục trong năm học mới.

Trên nguyên tắc, trường tư thục và công lập đều có tự do như nhau trong việc thẩm định và lựa chọn SGK. Tuy nhiên, khi đi vào thực tế, thì mức độ tự do có thể có khác nhau. Với chúng tôi, mục tiêu chọn được một bộ sách tốt, phù hợp với triết lý giáo dục, giá trị cốt lõi, phương pháp giáo dục của nhà trường là quan trọng nhất.

Tôi hy vọng cơ chế này sẽ tiếp tục được duy trì trong những năm sau để tránh việc áp đặt chọn SGK từ các cơ quan chủ quản xuống, vì suy cho cùng, chỉ nhà trường và các thầy cô mới có thể đánh giá chính xác nhất đâu là bộ sách tốt nhất, phù hợp nhất với trường mình.

PV: Tại các quốc gia nước ngoài anh đã tới để học tập, nghiên cứu và cho con em mình theo học, anh thấy sách giáo khoa của họ có ưu, nhược điểm gì so với SGK Việt Nam?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương: SGK của nước ngoài, ít nhất là ở những nơi tôi đã sống và làm việc, nhìn chung đều vượt trội cả về nội dung và hình thức so với SGK của chúng ta. Lý do thật đơn giản, đó là các nước có nền kinh tế, khoa học, giáo dục… phát triển hơn chúng ta. Nói cách khác, mặt bằng chung của họ cao hơn, nên SGK cũng tốt hơn và đẹp hơn. Nhờ đó mà nội dung SGK cập nhật, hiện đại, khoa học. Minh họa và in ấn cũng đẹp hơn rất nhiều.

Tôi có thể minh họa điều này bằng một chi tiết rất nhỏ mà ít người để ý: Chúng ta hiện rất khó làm sách giáo khoa đẹp và tốt, vì kho ảnh chất lượng dùng để minh họa cho sách hầu như không có. Hình minh họa của ta chủ yếu là hình đồ họa, hoặc ảnh chất lượng thấp, nhiều khi chỉ ở mức minh họa cho có, chứ không phải là những hình ảnh sống động, chân thực. Nhiều lúc tôi nghĩ, không biết cho đến khi nào mình mới có được kho ảnh, kho tư liệu đủ để làm ra các bộ SGK đẹp như của họ.


Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là họ có tự do học thuật thực sự, có nhiều bộ SGK để nhà trường và giáo viên lựa chọn khi giảng dạy. Chính yếu tố này làm ra sự khác biệt về chất lượng các bộ SGK, và xa hơn là chất lượng giáo dục.



PV: Bộ GD-ĐT đã mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc để cho ra đời những bộ SGK mới cho từng cấp học. Theo anh, việc ra đời SGK mới có thể thay đổi được thực trạng dạy và học tại Việt Nam hay không?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương: SGK chỉ là một phần nhỏ trong việc tạo ra chất lượng giáo dục. Phần quyết định nằm ở các nội dung còn quan trọng hơn cả SGK, triết lý giáo dục và hệ giá trị mà nhà trường theo đuổi, chất lượng của đội ngũ giáo viên, tinh thần và phương pháp giáo dục chủ đạo, hành chính giáo dục, mô hình tổ chức và quản trị trường học, cách thức thi cử…

Với tôi, tất cả các điều này đều quan trọng, thậm chí quan trọng hơn cả SGK trong việc tạo ra chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, các nội dung này, cái thì vô hình, cái thì quá khó để thay đổi, hoặc nằm ngoài tầm kiểm soát của ngành giáo dục, nên tất cả đổ dồn cho SGK.

Vì lẽ đó, tôi cho rằng, với sự ra đời của các SGK mới, chất lượng giáo dục có cải thiện nhưng không có đột phá khi các yếu tố còn lại hầu như không thay đổi. Đơn cử như nếu cách thức thi cử không thay đổi thì cách dạy, cách học sẽ vẫn giữ nguyên như cũ.

Chúng ta có truyền thống học để thi, nên thi gì học nấy. Nếu thi vẫn như cũ, thì học cũng sẽ vẫn như cũ. Mà quan sát của tôi cho thấy cách thức thi cử hiện nay không tốt hơn ngày xưa, nhiều khía cạnh còn thụt lùi khi tìm cách thi trắc nghiệm những nội dung không thể trắc nghiệm.


PV: Anh đã từng viết nhiều về sự bế tắc của giáo dục cũng như triết lý giáo dục dường như không tồn tại ở Việt Nam? Theo anh khi bộ SGK mới ra đời, nó có thay đổi được triết lý giáo dục hay không?


Tiến sĩ Giáp Văn Dương: Triết lý giáo dục rất quan trọng, vì nó trả lời thẳng thừng vào câu hỏi: Chúng ta định đào tạo con người nào? Chỉ khi nào có một triết lý giáo dục đúng đắn dẫn dắt, thì các hoạt động giáo dục mới trở nên có ý nghĩa và có tính hướng đích.

Khi đó, thầy sẽ biết rất rõ sản phẩm mình sẽ đào tạo ra cần có những phẩm tính gì, và làm thế nào để đạt được điều ấy. Trò cũng biết rất rõ học thế nào và học để làm gì. Nhà trường, và rộng hơn là cả hệ thống giáo dục, sẽ biết cách tổ chức và vận hành làm sao để hiện thực hóa được triết lý giáo dục mà mình đã lựa chọn.

Tuy nhiên, hiện giờ thì triết lý giáo dục là một sự bế tắc và một cơn đau đầu kinh niên của giáo dục Việt Nam. Đau đầu và bế tắc không phải vì không ai biết bệnh, mà vì không dám gọi tên một cách tường minh và tìm cách chữa trị nó. Vì thế, những cải cách trong mấy chục năm qua cứ quẩn quanh giậm chân tại chỗ.

Điều này cũng giống như một người không có triết lý và giá trị sống, nên không biết sống để làm gì và mất định hướng trong việc ra các quyết định quan trọng. Hệ quả là cứ chạy theo sự vụ và dư luận để đối phó và phản ứng.

Trong hoàn cảnh như thế, sự ra đời của các bộ SGK lớp một mới là một cố gắng cần ghi nhận, nhưng tạo ra những phát triển đột phá trong giáo dục thì cần nhiều nỗ lực hơn thế, mà xác lập một triết lý giáo dục tường minh và đúng đắn để dẫn dắt là một trong những công việc cần phải làm.

Chỉ e là do né tránh, không dám đối mặt với vấn đề căn cốt này, nên triết lý giáo dục sẽ còn tiếp tục bị bỏ ngỏ trong thời gian tới. Khi đó, các bộ SGK mới sẽ chỉ như một nỗ lực chắp vá trong cải cách giáo dục. Thậm chí, tự do lựa chọn bộ SGK mới cho các trường như hiện giờ cũng sẽ bị đe dọa.

PV: Xin trân trọng cám ơn anh!

Việt Hoàng

Đình chỉ học khác gì đuổi con khỏi nhà?


12/09/2020 09:08 GMT+7

TTO - Bộ GD-ĐT vừa ra dự thảo về khen thưởng và kỷ luật học sinh, trong đó có một nội dung đáng chú ý, được đánh giá cao là bãi bỏ hình thức đuổi học sau 32 năm quy định trong thông tư 08 năm 1988.

Đây là một thay đổi tốt, song chưa trọn vẹn, bởi vì thay vào đó học sinh vi phạm sẽ vẫn bị đình chỉ tối đa hai tuần.

Là một người làm giáo dục phổ thông, việc khen thưởng và kỷ luật học sinh nằm trong quy trình vận hành của nhà trường, nhưng chưa bao giờ chúng tôi tính đến việc đuổi học hay đình chỉ học tập của học sinh. Vì sao?

Lý do, theo tôi, đuổi học hay đình chỉ học tập là thừa nhận sự thất bại của nhà trường trong giáo dục với học sinh. Bằng cách sử dụng hình thức đình chỉ học tập, nhà trường đã tự tước đi điều kiện đạt được mục tiêu giáo dục của mình. Nói cách khác, không có cách nào để đạt được các mục tiêu giáo dục thông qua việc đình chỉ giáo dục.

Tuy dự thảo nói rằng đình chỉ học tập để chuyển sang hình thức "giáo dục riêng", có thể các em không ở nhà mà vẫn đến trường để "giáo dục riêng", nhưng với nội dung chương trình và cách thức tổ chức giáo dục cũng như thực tế học hành hiện nay, khó có cách nào học sinh và gia đình có thể tổ chức kế hoạch "giáo dục riêng". Chưa kể kế hoạch "giáo dục riêng" đó là gì, ai soạn thảo, ai ban hành, ai chịu trách nhiệm... thì chưa có.

Những trải nghiệm và quan sát của cá nhân tôi cho thấy học sinh nếu đã bị đình chỉ học, tức rời khỏi lớp học, dù chỉ một hay hai tuần thì sẽ rất có thể có xu hướng bỏ học luôn, nhất là ở các vùng nông thôn, miền núi. Học sinh khi đó sẽ rơi vào một trong hai trạng thái: hoặc sẽ xấu hổ vì mang tiếng bị đuổi học (hay gọi là đình chỉ học), hoặc sẽ bất cần nên dễ tiếp tục phạm lỗi sau khi trở lại trường.

Hiện chúng ta đang áp dụng thông tư 08 ra đời năm 1988 cho các hình thức khen thưởng, kỷ luật các học sinh này. Nhưng hoàn cảnh xã hội hiện nay đã rất khác năm 1988. Thời điểm đó, học sinh nghỉ học có thể trực tiếp tham gia lao động sản xuất để thấy được sự vất vả, mệt nhọc của lao động mà thức tỉnh. Nhưng ngày nay, học sinh bị ra khỏi lớp rất dễ sa vào các trò chơi điện tử, lang thang đường phố, lang thang trên mạng...

Đây đều là những nơi ẩn chứa quá nhiều rủi ro mà chính gia đình và nhà trường cũng không kiểm soát được. Việc áp dụng hình thức đình chỉ học tập cho học sinh như thế sẽ rất dễ phản tác dụng với cả học sinh và nhà trường.

Nếu nói rằng đình chỉ học tập nhưng học sinh vẫn đến trường để "giáo dục riêng" thì dù đạt được kết quả tích cực nhất cũng đã tách các em ra khỏi lớp học, trở thành một học sinh cá biệt rất khó khăn khi trở lại lớp như trước.

Đình chỉ học tập hai tuần có khác gì đuổi con ra khỏi nhà hai tuần? Khi đó, trường học không còn là trường học, giống như gia đình không còn là gia đình nữa. Tôi rất mong một khi Bộ GD-ĐT mạnh mẽ đổi mới bỏ việc đuổi học học sinh đã duy trì dài 32 năm, nên đổi mới mạnh mẽ hơn nữa: thay việc đình chỉ học sinh bằng một hình thức khác, nhân văn hơn, thực tế hơn, hiệu quả hơn.

TS GIÁP VĂN DƯƠNG

Nguồn: Báo Tuổi trẻ

Khi thiếu triết lý giáo dục dẫn dắt


Phản ứng của xã hội về SGK những ngày qua cho thấy một nội dung rất quan trọng: Khi biên soạn bộ SGK này, các tác giả đã không có một triết lý giáo dục đúng và tường minh dẫn dắt, nên các tác giả đã không hình dung được SGK của mình sẽ được sử dụng để đào tạo con người nào. 

Khi đã không biết rõ sách mình viết ra để đào tạo con người nào thì sẽ rất dễ rơi vào viết… nhảm. Cũng giống như người thầy, khi không biết những điều mình dạy sẽ góp phần đào tạo ra con người nào thì sẽ chỉ có thể dạy theo máy móc, và cũng rất dễ dạy… nhảm.

Vì thế, ngữ liệu, nội dung, hình ảnh minh họa... sẽ thiếu nhất quán, tự phát và bị giới hạn bởi trải nghiệm tuổi thơ và giáo dục của chính các tác giả. Đó chính là lý do vì sao trong sách hay có nhiều từ địa phương, xa lạ và ít sử dụng với trẻ em hiện giờ.

Ngoài ra, cách dùng từ ngữ, cách nói của các tác giả khi còn nhỏ cũng đi thẳng vào SGK vì cho rằng trẻ con nào cũng sẽ nói năng như vậy. Nhưng thực tế không phải vậy, vì vùng miền khác nhau, thời đại khác nhau, nên cách dùng từ của trẻ hiện nay sẽ rất khác so với cách dùng từ của các tác giả khi còn nhỏ trước kia.

Khi đã thiếu triết lý giáo dục dẫn dắt, tự phát và bị giới hạn bởi quá khứ như thế, những gì được viết ra trong SGK sẽ là những gì thuộc về tiềm thức và trải nghiệm tự nhiên của chính các tác giả, những người đã rất cũ, đã thuộc về quá khứ, chứ không phải những gì dành cho các thế hệ tương lai, thuộc về một thời đại hoàn toàn mới.

Chưa kể, điểm yếu cốt tử của việc biên soạn SGK từ xưa đến nay vẫn chưa khắc phục được, đó là: Không có một tổng công trình sư chỉ huy việc biên soạn SGK cho toàn cấp học. 

Việc này dẫn đến một thực tế rằng, các tác giả trong cùng một bộ sách, nhưng thuộc các bộ môn khác nhau, hiếm khi làm việc cùng nhau để đồng bộ hóa, dẫn đến nhịp đi của các bộ sách bị vênh nhau, gây khó cho học sinh và giáo viên, làm giảm chất lượng giáo duc rất nhiều. 

Những điều này chỉ có thể khắc phục khi: Xác lập được một triết lý giáo dục đúng để dẫn dắt việc biên soạn SGK, bộ bộ giá trị cốt lõi làm khung tham chiếu, một nhóm phương pháp giáo dục tiên tiến để truyền tải các nội dung này, và một tổng công trình sư đủ tầm vóc để chỉ huy việc biên soạn SGK cho toàn cấp học.

Nếu không, thì các bộ SGK của năm sau cũng không hy vọng sẽ khắc phục được các sai sót này.
---
Với bộ SGK Lớp 1 năm nay: Thật đúng đắn khi chúng tôi quyết chọn bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống" làm SGK Lớp 1 cho Times School, mặc dù khi đó đa số các trường trong Quận đều chọn bộ sách khác.

Nếu không, chắc giờ này đang đau đầu vì SGK lớp 1 .


Nguồn: Facebook Giáp Văn Dương ngày 10/10/2020

Những nguyên tắc cơ bản khi biên soạn Sách Giáo Khoa


Những ngày qua, dư luận xã hội lại xôn xao vì một số “sạn” không đáng có trong SGK Lớp 1. Tôi không tham gia biên soạn SGK. Tuy nhiên, qua kinh nghiệm làm chương trình nhà trường và tổ chức biên soạn giáo trình của một số môn học chuyên biệt, tôi có thể hình dung các nguyên tắc cơ bản dùng làm định hướng khi tổ chức biên soạn và thẩm định SGK, như sau:

Nguyên tắc thứ nhất là phải có một tổng công trình sư đủ tài năng, đức độ và tầm vóc để chỉ huy việc làm sách giáo khoa. Nếu không sẽ vỡ trận về nội dung trong từng môn học và trong tất cả các bậc học.
Hiểu nôm na thì người đó sẽ đóng vai trò như nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc, phải lựa chọn nhạc cụ, chỉ huy và giữ nhịp cho cả dàn nhạc. Nếu không sẽ dẫn đến tình trạng có gì dùng nấy kiểu tự phát, như mang đàn bầu và nhị và trong dàn nhạc giao hưởng chẳng hạn.

Nguyên tắc thứ hai là những người làm sách phải xác lập được một triết lý giáo dục tường minh và thuyết phục để dẫn dắt việc tổ chức nội dung, lựa chọn ngữ liệu, thiết kế minh họa, sâu chuỗi logic của các mô-đun trong một môn học, và đồng bộ hóa nội dung của tất cả các môn trong một bậc học, kế thừa và phát triển nội dung trong các bậc học khác nhau, trong sự nhất quán về triết lý và giá trị.

Việc này có thể được thực hiện thông qua việc trả lời thật nghiêm túc và thấu đáo câu hỏi cơ bản: Bộ SGK này sẽ được dùng để đào tạo con người nào?

Chẳng hạn, trong ngôi trường của chúng tôi, triết lý giáo dục được phát biểu ngắn gọn là: Đào tạo con người tự chủ, sống hạnh phúc, làm hiệu quả. Vì vậy, tất cả các thành phần của chương trình giáo dục đều phải hướng đến việc hiện thực hóa triết lý giáo dục này.

Nếu không, các tác giả sẽ không hình dung được bộ SGK do mình viết ra sẽ được sử dụng để đào tạo con người nào, vì thế, sẽ rất dễ rơi vào tự phát và bị giới hạn bởi kinh nghiệm trực tiếp của chính tác giả, tức rất dễ mắc phải các sai lầm không đáng có về ngữ liệu và minh họa, và nghiêm trọng hơn, bộ SGK được viết ra sẽ bị giam hãm bởi quá khứ của chính các tác giả.

Nguyên tắc thứ ba là cần lựa chọn một bộ giá trị cốt lõi làm khung tham chiếu trong suốt quá trình biên soạn sách. Nếu không, sẽ không có đủ cơ sở để đưa ra các lựa chọn và điều chỉnh hầu đạt được mục tiêu của cuốn sách.

Chẳng hạn, bộ giá trị cốt lõi của trường chúng tôi là bốn giá trị Chân – Thiện – Mỹ - Hòa. Mỗi khi phải đưa ra một đánh giá, một lựa chọn, chúng tôi đều phải tham chiếu đến các giá trị này. Nếu nội dung nào không đủ cơ sở khoa học, hoặc có tiềm năng gây hại cho học sinh hoặc môi trường, xã hội là chúng tôi loại bỏ. Đôi khi, chúng tôi cũng phải cắt bỏ hoặc chỉnh sửa ngữ liệu, minh họa vì chúng tuy không sai, nhưng không đủ đẹp.

Nguyên tắc thứ tư là nhóm tác giả phải nhìn vào tương lai để viết SGK, chứ không phải nhìn lại quá khứ và trải nghiệm của nhóm tác giả và chính nền giáo dục. Sách giáo khoa có thể được viết ra bởi những người trên 60 tuổi, nhưng lại là để cho các học sinh 6 tuổi sử dụng khi vào lớp 1. 

Những người 60 tuổi đó thuộc về quá khứ, còn những học sinh 6 tuổi đó thuộc về tương lai. Phải 20-30 năm sau những học sinh 6 tuổi đi học ngày hôm nay mới bước vào đời, gánh vác trách nhiệm của gia đình và xã hội.

Vì thế, khi viết sách cần phải nhìn vào tương lai để viết, với một tầm nhìn tối thiểu là ba mươi năm, ăn khớp với tầm nhìn về phát triển của quốc gia và dự đoán tương lai của thời đại. 

Nếu không, SGK mới được viết ra sẽ na ná như sách cũ, đặc biệt là khi vẫn những con người cũ chủ trì và là lực lực chính để viết sách. Khi đó, sách sẽ bị lạc hậu ngay khi được viết ra.

Nguyên tắc thứ năm là phải bám sát chương trình giáo dục phổ thông mới (chương trình quốc gia) đã được ban hành để viết. Vì SGK viết ra cần phải qua thẩm định, xem có phù hợp với các yêu cầu của chương trình quốc gia không. Nếu không thì sách sẽ không được đưa vào sử dụng, sẽ uổng công cho người biên soạn.

Nguyên tắc thứ sáu là khi tiến hành viết SGK, nhóm tác giả phải trả lời thật rõ ràng, mạch lạc và thuyết phục những câu hỏi liên quan trực tiếp đến giá trị của bộ sách, như: Bộ SGK này mang lại giá trị gì cho người dùng, tức học sinh, giáo viên, phụ huynh và rộng hơn là cả xã hội? Và vì sao người dùng lại chọn các giá trị đó để sử dụng bộ sách?

Nếu không trả lời được rõ ràng và tự tin, có tính thuyết phục về giá trị của bộ SGK mình viết, nhiều khả năng bộ sách sẽ chỉ giống như một dự án giải ngân cho xong, chứ không phải là một sản phẩm giáo dục có chất lượng cao.

Nguyên tắc thứ bẩy là cân bằng hài hòa mối quan tâm của các bên liên quan đến việc biên soạn, quản lý và sử dụng bộ SGK.

Từ phía người viết sách, SGK dùng để cụ thể hóa chương trình giáo dục phổ thông đã được phê duyệt. Vì thế, khi viết sách, các tác giả sẽ phải bám theo chương trình khung này.

Tuy nhiên, từ góc nhìn của nhà giáo dục, SGK là phương tiện chủ đạo để hiện thực hóa câu trả lời cho các câu hỏi cốt yếu trong giáo dục: Bộ SGK này dùng để đào tạo con người nào? Tổ chức nội dung SGK như thế nào cho nhất quán và hướng đích?

Còn từ phía người dùng, tức phụ huynh, học sinh và rộng hơn là xã hội, thì mối quan tâm của họ là bộ SGK này mang lại giá trị gì cho học sinh, có giúp học sinh trang bị các kiến thức và phát triển các kỹ năng cần thiết, có giúp cho con họ trưởng thành, có tạo ra những con người tự lập – tự chủ, những công dân trách nhiệm và đạo đức… hay không?

Nguyên tắc thứ tám là các tác giả phải thấu hiểu người dùng, tức các học sinh, thông qua việc trả lời các câu hỏi rất cụ thể như: Bộ SGK này được viết cho đối tượng nào? Các đặc trưng về tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh là gì? Các kiến thức và kỹ năng mà các em đã có trước đó? Các kiến thức và kỹ năng sẽ được phát triển ở các bậc học kế tiếp? Hoàn cảnh xã hội và đặc điểm vùng miền của học sinh sử dụng sách?

Nếu không trả lời thuyết phục được các câu hỏi này, thì dù sách có hay theo góc nhìn của nhóm tác giả, học sinh và phụ huynh vẫn không chấp nhận.

Nguyên tắc thứ chín là nội dung, bố cục phải nhất quán và tuân thủ một logic tổng thể chung, nội dung của các môn học phải được đồng bộ hóa theo hướng tích hợp liên môn. Nếu không các môn học khác nhau sẽ không hỗ trợ nhau, nhịp đi của các môn học sẽ vênh nhau, làm giảm chất lượng giáo dục khi triển khai đi rất nhiều.

Làm được như thế, mỗi cuốn sách không chỉ là một mạch tri thức cần khám phá, mà cả bộ sách sẽ trở thành một bản giao hưởng nhất quán và hấp dẫn.

Nguyên tắc thứ mười là xác định rõ phương pháp giáo dục chủ đạo của từng môn học và của cả bộ sách, để nội dung của bộ sách tương hợp một cách tự nhiên với phương pháp giáo đã được chọn.

Nếu không sẽ có sự vênh nhau giữa nội dung và phương pháp, dẫn đến gây khó khăn khi triển khai trong thực tế. Trong trường hợp đó, giáo viên sẽ trở lại phương pháp truyền thống là: thầy giảng giải, trò hiểu, trò ghi nhớ, thầy kiểm tra sự hiểu – sự nhớ qua các bài thi, với sản phẩm điển hình là “văn mẫu, toán dạng” định hướng là “học để thi” trong suốt quá trình học.

Nguyên tắc thứ mười một là các nội dung của SGK phải đảm bảo tính khoa học và hướng đến sự thật. Vì sao vậy? Vì khoa học và tri thức chính là đối tượng cần chiếm lĩnh của học sinh, cũng là các hoạt động chính của nhà trường. Văn hóa sẽ là nội dung cần lưu ý tiếp sau khoa học, nhưng chiếm vị trí thứ yếu hơn. Còn tôn giáo và chính trị, tốt nhất là không nên xuất hiện ở trong trường học, nếu đó không phải là một đối tượng của học thuật.

Nguyên tắc thứ mười hai là nội dung của SGK còn phải phù hợp với lẽ thường và các chuẩn mực đạo đức phổ quát, không có các nội dung phân biệt tôn giáo, giới tính và vùng miền, không gián tiếp xúi giục các hành vi phạm pháp... Vì SGK của bậc học phổ thông là dạy những thứ thật phổ thông, trong đó hiểu được lẽ thường, sống theo đạo đức phổ quát và làm việc theo pháp luật là một trong những nội dung quan trọng.

Nguyên tắc thứ mười ba là sách viết ra phải có các yếu tố có tính cách địa phương hóa và cá nhân hóa giáo dục. Tức người viết sách phải hình dung được bộ sách của mình sẽ được dùng ở khu vực nào là chính, và với ngay cả một khu vực đã được xác định như thế, thì các học sinh khác nhau có thể cá nhân hóa việc học của mình như thế nào, và giáo viên có thể tổ chức việc cá nhân hóa giáo dục đó ra sao trên cơ sở nội dung của SGK.

Nguyên tắc thứ mười bốn là SGK phải giúp cho học sinh tự học được. Vì sao vậy? Vì trái tim của việc học là chính là tự học. Nếu SGK mà học sinh cầm lên không thể tự học được, thì đó là mộtthất bại của các tác giả.

Tuy nhiên, các bộ SGK hiện hành, đặc biệt là các bộ SGK từ lớp 2 trở lên, làm cho học sinh không thể tự học. Kiến thức trong sách được chia thành hai phần, như khóa và chìa. Thầy cô nắm chiếc chìa khóa, chỉ khi nào tra chìa vào thì cánh cửa tri thức mới mở ra được. Đó thực sự là một tiếp cận sai lầm khi biên soạn SGK.

Nguyên tắc thứ mười lăm là sách viết ra phải phù hợp với trình độ của giáo viên và phải có sách giáo viên đi kèm. Điều này có nghĩa, các tác giả khi viết sách phải có hình dung rõ ràng và có nguyên tắc với việc giảng dạy sau này, có sự tham gia góp ý và thảo luận của các giáo viên đang đứng lớp. Nếu không, giáo viên sẽ không thể sử dụng SGK một cách đúng đắn và hiệu quả.

Khi đó, giáo viên sẽ rơi vào tình trạng mò mẫm và máy móc khi giảng dạy, và từng bước trượt về cách dạy cũ của bộ SGK cũ, trong sự hoang mang và kém hiệu quả.

Ngoài ra, việc tập huấn giáo viên khi sử dụng SGK mới, đặc biệt là tập huấn về phương pháp giáo dục, là cần thiết.

Nguyên tắc thứ mưới sáu là phải có sự liên hệ chặt chẽ giữa nội dung giáo dục và kiểm tra đánh giá thi cử của học sinh. Nói cách khác, nội dung sách phải đáp ứng được các yêu cầu về kết quả đầu ra đối với học sinh, và SGK phải đi kèm các nội dung và phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh một cách tương ứng.

Kết hợp với nguyên tắc trên, ta thấy nội dung SGK phải đồng hợp với trình độ của giáo viên, khả năng tự học và sự tiếp nhận của học sinh và phương pháp kiểm tra – đánh giá – thi cử, tạo ra một “bộ tứ kim cương” hài hòa và nhất quan.

Nguyên tắc thứ mười bẩy là chi phí của bộ SGK viết ra có phù hợp với xã hội. Một bộ sách tốt, nhưng chi phí lên đến nhiều triệu đồng, như SGK của nước ngoài, thì cũng không phù hợp với điều kinh kinh tế của đa số các gia đình của Việt Nam. Vì thế, số lượng trang sách, màu sắc sử dụng, cũng phải nằm trong những giới hạn được phép để không đội quá chi phí khi in ấn.

Nguyên tắc thứ mười tám là thiết lập nhóm nguyên tắc và tiêu chí riêng cho từng bộ môn trong cả bộ SGK. Chẳng hạn: Với môn Tiếng Việt thì ngữ liệu phải lựa chọn sao cho phù hợp với thứ tự các âm, vần đã học và đáp ứng các tiêu chí riêng của bộ môn này; hoặc với môn Toán, môn Khoa học thì các khái niệm mới phải dựa trên các khái niệm cơ sở trước đó… trong sự tiếp cận liên môn và hỗ trợ lẫn nhau giữa các môn học.

Nguyên tắc thứ mười chín là SGK và giáo dục chỉ là một phần của giáo dục, và giáo dục chỉ là một bộ phận của xã hội và quốc gia. Quốc gia cũng chỉ là một phần của thế giới và thời đại. Vì thế, trong quá trình biên soạn SGK, luôn phải đặt những nội dung của sách trong một không-thời gian rộng lớn hơn của dân tộc và thời đại để SGK có thêm sức sống vì không tự cô lập và giới hạn mình.

Nguyên tắc thứ hai mươi, tạm coi là nguyên tắc cuối cùng cho đỡ phức tạp, là những người biên soạn và thẩm định sách luôn giữ được sự cẩn trọng và khoa học trong suốt quá trình làm SGK, liên tục lắng nghe và hoàn thiện nội dung, với mục tiêu tạo ra một bộ sách tốt nhất cho học sinh sử dụng, trong một hình dung lớn hơn về sự phát triển của quốc gia, chứ không chỉ đơn thuần là tạo ra một bộ SGK đủ vượt qua vòng thẩm định.

Trên đây là phác họa một số nguyên tắc mà người viết bài này rút ra được khi tổ chức làm chương trình và biên soạn giáo trình cho một số môn học riêng của nhà trường. Thiển nghĩ, các nguyên tắc này hoàn toàn có thể áp dụng, hoặc ít nhất là có giá trị tham khảo, cho việc tổ chức làm SGK.

Với SGK lớp 1 năm nay, người ngoài không thể biết được bộ nguyên tắc định hướng cho việc biên soạn và thẩm định SGK là gì. Nhưng có một điều chắc chắn, không định ra các nguyên tắc cơ bản để định hướng và tuân thủ bộ quy trình biên soạn và thẩm định SGK để kiểm soát chất lượng, thì chắc chắn sẽ mắc phải các sai sót không đáng có.

Muốn không lặp lại các sai sót này trong các bộ SGK lớp 2 và lớp 6 năm sau, người tổng chỉ huy nhất thiết phải định ra nguyên tắc cơ bản tương tự như bộ nguyên tắc này, và sử dụng chúng một cách tự nhiên – thành thạo, để định hướng cho việc tổ chức biên soạn và thẩm định SGK. 

Nếu không, các sai sót trong các bộ SGK kế tiếp - hoặc dưới dạng kỹ thuật như ngữ liệu và minh họa không phù hợp, hoặc ở việc không đạt được mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể - là không thể tránh khỏi.

Biên soạn sách giáo khoa cần phải khoa học và nghiêm túc hơn

12/10/2020 06:30 GMT+7

TTO - Trước những ồn ào xung quanh sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, bộ Cánh diều, các bên liên quan cần có những cách giải quyết thỏa đáng với mục tiêu cuối cùng là học sinh có SGK hoàn toàn là tiếng Việt trong sáng, phổ thông và ý nghĩa.



Học sinh lớp 1 học đánh vần tại một trường tiểu học ở TP.HCM - Ảnh: TỰ TRUNG

Năm nay chúng ta có nhiều bộ SGK thay vì chỉ một bộ. Đó là một bước tiến lớn. Về nguyên tắc, nhiều bộ SGK sẽ tốt hơn một bộ SGK. Vì thế không nên vì một số sai sót mà lùi lại với một bộ SGK như trước.

Đó là khẳng định của TS Giáp Văn Dương, chuyên gia giáo dục. Trao đổi với Tuổi Trẻ về hướng xử lý, ông Dương nhận định:

- Theo tôi, với nhóm tác giả, cần tiếp thu các ý kiến, nhận xét của giới chuyên môn và xã hội để sửa chữa những sai sót cho lần tái bản kế tiếp.

Với nhà quản lý, cần đưa ra những hướng dẫn về cách khắc phục sai sót trong sách giáo khoa (SGK) cho các trường, đồng thời tổ chức lấy ý kiến chuyên gia, hoặc thẩm định lại, để giúp các tác giả điều chỉnh nội dung chưa phù hợp của bộ sách.

Còn với nhà trường, cần theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT. Với các trường công thì việc chọn SGK không thể tự quyết được, nên thay đổi SGK không phải là việc dễ, trừ phi có hướng dẫn cụ thể của ngành giáo dục.

Vì thế tôi có thể dự đoán rằng các trường sẽ cứ "dùng dằng mà đi" với bộ SGK đến hết năm học, sau đó sẽ tính tiếp.

* Là người từng học tập, nghiên cứu, giảng dạy ở nước ngoài, ông nhận xét gì về SGK ở các nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển?

- Tôi có trải nghiệm trực tiếp về SGK bậc phổ thông của Anh và Singapore. Hai nước này đều có nhiều bộ SGK cùng lưu hành nhưng cách sử dụng SGK cũng rất khác nhau. Ở Anh, khi con tôi học tiểu học tôi không thấy SGK xuất hiện trong cặp của con, vì các bài học là do thầy cô thiết kế dựa trên chương trình quốc gia và tham khảo các bộ sách hiện hành.

Vì thế học sinh chỉ có phiếu học tập, phiếu bài tập kẹp thành tập, thay vì cả bộ SGK như ở Việt Nam. Tuy nhiên, ở các khối lớp cao hơn thì học sinh có sử dụng SGK, giáo trình. Bậc học càng cao thì SGK, giáo trình ngày càng trở nên quan trọng với học sinh.

Riêng tại Singapore cách dùng SGK khá giống ở Việt Nam. Mỗi học sinh đều có một bộ SGK chính thức. Đây là bộ SGK được nhà trường chọn trong số vài chục bộ được cấp phép lưu hành. Việc viết và phát hành SGK là công việc của các tác giả và các nhà xuất bản.

Bộ Giáo dục Singapore chỉ thẩm định và cấp phép lưu hành có thời hạn cho các bộ SGK.

* Để có những bộ SGK tốt cho học sinh Việt Nam, theo ông, quy trình làm sách nên như thế nào, những ai tham gia?

- Kinh nghiệm cá nhân tôi cho thấy bước đầu tiên và quan trọng nhất khi làm SGK là chọn được một tổng công trình sư có tư tưởng giáo dục rõ ràng và thuyết phục, có đủ tâm huyết với giáo dục, trăn trở với sự phát triển của đất nước, với tương lai của thế hệ trẻ và có đủ năng lực để triển khai công việc làm tổng chỉ huy việc biên soạn SGK.

Tổng công trình sư phải là một nhà giáo dục, thay vì một nhà giáo giỏi. Người đó sẽ đóng vai trò như người thiết kế và đảm bảo chất lượng chung của toàn bộ SGK, liên thông từ lớp 1 đến lớp 12, trong sự đồng bộ của tất cả các môn học khác nhau.

Thực tế cho thấy một nghìn thợ xây giỏi tập hợp lại cũng không thể thiết kế và chỉ huy xây dựng được một tòa nhà hiện đại. Tương tự như vậy, một nghìn nhà giáo giỏi tập hợp lại cũng không thể tạo ra một bộ SGK tốt, nếu không có một tổng công trình sư dẫn dắt.

Nhưng nhà giáo thì rất nhiều, còn nhà giáo dục rất hiếm. Nhà giáo dục tâm huyết với sự phát triển của đất nước, trăn trở với số phận của thế hệ trẻ lại càng hiếm. Đó là cái khó trong việc chọn tổng công trình sư cho việc biên soạn SGK. Tuy khó nhưng không thể không làm, nếu muốn có một bộ SGK tốt.

Sau khi đã chọn được tổng công trình sư, người này tập hợp đội ngũ, xác lập được triết lý giáo dục để làm định hướng, thiết lập bộ giá trị cốt lõi để làm khung tham chiếu, lựa chọn phương pháp giáo dục chủ đạo để truyền tải nội dung và cân bằng mối quan tâm của các bên liên quan đến bộ sách như giáo viên - học sinh, phụ huynh, nhà xuất bản, nhà quản lý, đặt trong một tầm nhìn khoảng 30 năm về sự phát triển của quốc gia và của thời đại.

Người tổng công trình sư này cũng đồng thời là người đào tạo và truyền cảm hứng cho toàn bộ nhóm viết SGK, sao cho tất cả các thành viên thấm nhuần tư tưởng và định hướng giáo dục của mình và của chương trình quốc gia, kiểm tra và giám sát tổng thể quá trình biên soạn sách, sao cho đảm bảo được chất lượng của bộ SGK, không chỉ theo yêu cầu của chương trình quốc gia mà còn hiện thực hóa được tư tưởng giáo dục của nhóm tác giả và đặc trưng riêng của từng môn học.

Đó là bước đầu tiên, cũng là bước quan trọng nhất, trong quy trình biên soạn ra một bộ SGK có chất lượng.


Giáo viên khối lớp 1 cùng ban giám hiệu Trường tiểu học Kỳ Đồng, Q.3, TP.HCM thảo luận cho SGK mới - Ảnh: NHƯ HÙNG

* Bộ GD-ĐT đang tiến hành làm SGK lớp 2 trở lên. Theo ông, bài học kinh nghiệm gì cần rút ra từ sự cố SGK tiếng Việt lớp 1, bộ Cánh diều?

- Với Bộ GD-ĐT, bài học quan trọng nhất là thẩm định SGK cần phải làm bài bản, khoa học và minh bạch hơn. Cụ thể, bản thảo của các bộ SGK cần được công bố rộng rãi để lấy ý kiến góp ý, bên cạnh phần góp ý của hội đồng thẩm định.

Với bộ SGK năm nay, bản thảo được bảo mật nên ngoài các tác giả và hội đồng thẩm định thì không ai biết nội dung SGK thế nào. Đến khi in ấn xong rồi, SGK cũng không được phát hành sớm tại nhà sách như các năm trước nên phụ huynh muốn mua cũng không được. Các chuyên gia cũng phải rất khó khăn mới có được sách biếu tặng để tham khảo và lựa chọn.

Có lẽ là vì các bộ SGK lớp 1 năm nay phải cạnh tranh nhau nên nội dung cần bảo mật? Nếu đúng vậy thì đây là một chi tiết rất dở, cần khắc phục bằng cách Bộ GD-ĐT chỉ đạo tất cả các bộ SGK cần công bố cùng một ngày để đảm bảo công bằng và lấy ý kiến nhận xét của giới chuyên môn và xã hội.

Còn về phía các tác giả, tôi cho rằng quy trình tổ chức biên soạn SGK cần phải khoa học và nghiêm túc hơn nữa. Nếu không, những sai sót đáng tiếc là không tránh khỏi.

Giúp trẻ hình thành tư duy phản biện

Với phụ huynh, nếu những người có điều kiện và đủ năng lực dạy con có thể mua thêm một bộ SGK khác để cho con tham khảo thêm, hầu chỉ ra cho con thấy: "À, cùng một nội dung mà có nhiều cách viết khác nhau".

Khi đó các sai lầm của một bộ SGK nào đó sẽ được pha loãng, đồng thời giúp trẻ hình thành tư duy phản biện khi tham chiếu nhiều bộ SGK khác nhau.

TS GIÁP VĂN DƯƠNG
---
Nguồn: Tuổi trẻ

Tìm người thầy khai phóng ở đâu?

11 Tháng ba, 2018

Tiến sĩ Giáp Văn Dương lấy bằng Cử nhân Đại học Bách Khoa Hà Nội. Ông lấy bằng Tiến sĩ tại Đại học Công nghệ Vienna (Áo) ngành Vật lý Kỹ thuật (2006).

Sau một thời gian ngắn làm nghiên cứu sinh sau Tiến sĩ (postdoc) tại Áo, ông chuyển qua làm postdoc tại khoa Hóa học, Đại học Liverpool (Anh) từ 2007-2010, sau đó về Singapore làm nghiên cứu tại Temasek Laboratories, Đại học Quốc gia Singapore, từ 2010-2012. Từ 2013 đến nay, ông về Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

TS Giáp Văn Dương cho rằng, giáo dục khai phóng cản trở lớn nhất không phải cơ sở vật chất, không phải nội dung chương trình, không phải kiến thức mà chính là những người thầy.

TS Giáp Văn Dương kể, cách đây nhiều năm, khi ông bắt đầu theo đuổi triết lý con người tự do là đích đến của giáo dục, nhiều người làm giáo dục khuyên ông nói tránh đi.

“Nhiều người nói với tôi là anh nói con người tự chủ thôi, đừng nói con người tự do, nói con người tự do nguy hiểm lắm, thế này, thế kia. Nhưng tôi vẫn theo đuổi triết lý đó”.

TS Giáp Văn Dương bắt đầu đưa ra đại chúng, báo chí khái niệm con người tự do là đích đến của giáo dục đó nhưng phải mất 5 năm, bốn chữ con người tự do mới xuất hiện “một cách dõng dạc, thẳng lưng” trên tiêu đề của mặt báo.

Triết lý đó đúc kết từ sự trải nghiệm, quan sát. TS Giáp Văn Dương cho hay ông là lớp sinh viên đầu tiên học chương trình giáo dục đại cương khi học ở Đại học Bách khoa Hà Nội. Như mọi sinh viên, ông phải thi vượt giai đoạn để đến năm thứ 3.

Dù trong lứa sinh viên học cùng hầu như không cóngười nào chuyển trường khác sau hai năm học đại học đại cương, nhưng nhìn lại TS Giáp Văn Dương cho rằng, giáo dục đại học đại cương thất bại.

Ở Đại học Bách khoa, chương trình học 5 năm nhưng trường chỉ đơn thuần cắt hai năm đầu tiên thành đại học đại cương, tức chỉ đơn thuần cắt một cách cơ học 5 năm thành hai giai đoạn: 2 năm và 3 năm. Giả sử nếu không tồn tại đại học đại cương thì sinh viên thời kỳ đó vẫn học ngần đó môn, không có gì khác.

“Đại học đại cương chỉ có ý nghĩa nếu như có nhiều lựa chọn hơn, một thực đơn nhiều món ăn hơn để các em chọn những món mình thích thì mới thành công.


Nhưng đằng này số món ăn, các môn vẫn như vậy thì việc cắt ra hay gộp vào chẳng có ý nghĩa gì cả vì đằng nào chúng tôi cũng phải học tất cả các môn như thế mới được ra trường”, TS Giáp Văn Dương phân tích.

Ông cũng chỉ ra sai lầm của giáo dục theo tín chỉ. Ý nghĩa của tín chỉ chỉ nằm ở chỗ có nhiều môn để sinh viên lựa chọn.

“Bây giờ vẫn ngần đó môn mà lại học theo tín chỉ thì không giải quyết được câu chuyện đó. Cuối cùng các em vẫn phải học y chang như niên chế, vì phải học xong các môn này mới xong môn khác. Cho nên tín chỉ cũng thất bại bởi vì chúng ta không có nhiều lựa chọn cho học sinh. Đại học đại cương thất bại một phần là như thế”.

Theo quan sát của ông, một vấn đề quan trọng là thời điểm lúc đó chưa thích hợp, thời điểm của nền công nghiệp thế giới nói chung, trong đó có Việt Nam và thế giới chưa sẵn sàng cho giáo dục theo tinh thần khai phóng.

Với thời kỳ cách mạng công nghiệp 1.0, lúc đó máy hơi nước ra đời và người dẫn dắt sự phát triển chung của kinh tế là kỹ sư cơ khí.

Khi cách mạng công nghiệp 2.0 phát triển, động cơ điện ra đời, lực lượng dẫn dắt sự phát triển là kỹ sư điện. Cách mạng công nghiệp 3.0 bắt đầu khi khoa học máy tính ra đời thì lực lượng dẫn dắt quan trọng nhất sự phát triển đó là kỹ sư về máy tính.

“Cách mạng 4.0 chỉ xuất hiện gần đây, lực lượng dẫn dắt không phải kỹ sư điện, không phải kỹ sư cơ khí, không phải kỹ sư máy tính nữa mà là người có khả năng tích hợp để tạo ra một hệ thống mới.

Đó là người kỹ sư tích hợp hệ thống, người giải quyết các vấn đề xã hội có nhiều kiến thức, kỹ năng khác nhau, chứ không phải một chuyên ngành cụ thể. Nên thời này giáo dục khai phóng với nền tảng giáo dục rộng rãi có cơ hội được thực hiện”.

Khai phóng hay Khai sáng?

Theo TS Giáp Văn Dương, có sự nhầm lẫn về hiểu biết giáo dục khai sáng, giáo dục khai phóng và đại học đại cương. Nếu đại học đại cương là cấp độ thấp nhất (general education) trong ba dòng, thì cao hơn là khai phóng, cao hơn nữa là khai sáng.

“Anh có được giáo dục đại cương chưa chắc anh có được giáo dục khai phóng, có giáo dục khai phóng chưa chắc anh có khai sáng, nhưng anh có khai sáng thì anh sẽ có khai phóng và đại cương. Nhưng, khai sáng là câu chuyện của cá nhân, bao giờ cũng gắn với cá nhân.

Muốn làm giáo dục khai sáng thì bắt buộc người thầy phải là người khai sáng. Còn khai phóng thì có thể làm ở dạng hệ thống, thông qua tổ chức nội dung chương trình. Vì thế, nếu tôi mở đại học, tôi cũng chọn giáo dục khai phóng. Hiện tại, tôi đang làm giáo dục khai sáng trong các chương trình tư vấn đào tạo của mình. Ba hướng ở cấp độ khác nhau sẽ tạo ra con người khai phóng, con người tự do”.

TS Giáp Văn Dương cho rằng, giáo dục khai phóng cản trở lớn nhất không phải cơ sở vật chất, không phải nội dung chương trình, không phải kiến thức mà chính là những người thầy.

“Muốn làm giáo dục khai phóng phải có những người thầy khai phóng. Nhưng các thầy dạy các môn trong trường khai phóng vẫn chỉ dạy một môn, không có trải nghiệm qua nhiều ngành nghề khác nhau, chỉ dạy một môn như thế thì kiếm đâu người thầy khai phóng dẫn dắt, truyền cảm hứng cho học sinh? Nếu không giải quyết được câu chuyện này giáo dục khai phóng sẽ thất bại”.

Niềm vui đến trường


Thứ bảy, 5/9/2020, 12:14 (GMT+7) 52

Trong không khí ngày hội khai giảng, luẩn quất đâu đây vẫn còn những lo ngại thoáng qua.

Không chỉ cơm áo gạo tiền trước thềm năm học mới, còn một hành trình dài trước mặt, với cả người lớn và trẻ nhỏ, âu lo thường lấn át niềm vui.

Trẻ đầu cấp lo chuyện thích nghi. Trẻ giữa cấp lo bài vở và tụt hạng. Trẻ cuối cấp lo ôn luyện và thi cử. Bao lời răn dạy tối ngày cả ở trường và nhà, cùng bao tấm gương trước mắt làm cho sự học ngày nay không còn trong trẻo và vui tươi như xưa.

Là một người cha, cũng là người làm giáo dục, năm nào tôi cũng chứng kiến tâm tư này của trẻ nhỏ, không chỉ từ học sinh mà từ chính các con mình. Mỗi khi con đi học về, tôi thường hỏi: "Hôm nay con đi học có vui không?", nhưng câu trả lời hiếm khi được như mong đợi.

Vậy làm gì để trẻ nhỏ có được niềm vui đến trường? Làm gì để "mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui", để trường học là một "ngôi trường hạnh phúc"? Những khẩu hiệu vui tươi rộn ràng đó có thể thấy ở gần như mọi ngôi trường, thậm chí trở thành một thông điệp để tuyển sinh với khối trường ngoài công lập.

Nhưng học sinh không cảm thấy như thế. Phụ huynh không cảm thấy như thế. Và các thầy cô cũng không cảm thấy thế.

Thế giới khẩu hiệu và thế giới giáo dục cứ như song hành, cùng tồn tại ở một nơi thật đấy, nhưng cũng chẳng liên quan gì đến nhau thật đấy.

Sau nhiều năm quan sát và trải nghiệm trực tiếp trong môi trường giáo dục, tôi nhận ra rằng: mấu chốt nằm ở phương pháp giáo dục. Chính phương pháp giáo dục là yếu tố quyết định việc đến trường có vui không, ngôi trường có hạnh phúc không, chứ không phải cơ sở vật chất và của nhà trường.

Tôi nhận ra rằng, muốn có đột phá nào trong giáo dục thì phải đột phá ở phương pháp, rộng hơn là đột phá trong cách tiếp cận, chứ không phải đột phá ở kiến thức truyền đạt.

Cho đến nay, phương pháp giáo dục truyền thống của các trường có thể được mô tả thành một quy trình bốn bước như sau: 1. thầy giảng giải; 2. trò hiểu; 3. trò ghi nhớ; 4. thầy kiểm tra sự hiểu sự nhớ đó bằng các bài thi.

Vì thế, công việc chủ yếu của nguời thầy khi lên lớp là giảng bài. Giảng đến khi nào? đến khi học trò hiểu thì thôi chứ còn sao nữa.

Ta có thể nhận ra điều này khi thấy câu nói cửa miệng của các giáo viên là: "em hiểu chưa?". Nếu hiểu rồi thì cho qua. Còn chưa hiểu, hoặc bị thầy cho rằng chưa hiểu, xin mời ngồi nghe giảng tiếp. Mà việc giảng và việc nghe này nhiều lúc cũng chẳng liên quan. Thầy giảng cứ giảng. Trò lơ cứ lơ. Lời thầy nói vào tai nọ lại đi ra tai kia. Thầy nói thầy nghe, bao nhiêu chữ trò trả thầy hết.

Với những chủ đề quá ư lạc hậu và xa rời thực tế, lại trình bày theo lối khô khốc hoặc nặng tính quan liêu, trò sẽ có thêm lý do chống đối vì cho rằng có học cũng chẳng để làm gì.

Vì thế, càng đi sâu vào giáo dục, tôi càng nhận thấy rằng, trong cách dạy học truyền thống, ngay ở khâu đầu tiên của quá trình dạy học này, đã có mầm bạo lực khi thầy tìm mọi cách để áp đặt cách hiểu cho học trò.

Nhưng bất cứ ai đã đi học thì đều biết, việc học không chỉ là hiểu. Ngay sau khi hiểu thì học trò còn phải nhớ để chứng minh mình đã hiểu. Bất kể những điều phải nhớ đó đã có sẵn trong sách giáo khoa, hay chỉ cần google trong ba giây là thấy.

Chưa kể, việc nhớ ấy có tác dụng gì đối với sự trưởng thành của học trò không cũng chưa bao giờ được bàn đến. Đã học thì phải nhớ. Nếu không hiểu được thì cũng phải nhớ. Thế thôi!

Và để nhớ được, thì ôi thôi có đủ cách, đủ mẹo. Đơn giản nhất là học thuộc lòng. Cứ tìm chỗ yên tĩnh, hoặc ngồi nhắm mắt để tụng bài cả chục lần cho thuộc.

Nhưng thời đại này kiếm đâu ra một chỗ yên tĩnh. Quá nhiều thông tin. Quá nhiều tiếng ồn. Quá nhiều toan tính bon chen. Quá nhiều cám dỗ. Dù có bị nhốt vào một nơi yên tĩnh thì tâm trí cũng không thể yên tĩnh để mà học.

Thế là đành nhắm mắt tụng sao cho thuộc như đang chịu trận. Rồi nhờ bố mẹ, anh em dò bài cho. Khi đến lớp thì lại nhờ bạn truy bài. Miễn sao để nhớ, hoặc để chứng minh rằng mình nhớ, dù là mang máng, khi thầy kiểm tra.

Mà thầy cô và bố mẹ cũng nhiệt tình dấn tới. Tối tối bố mẹ dò bài. Ngày ngày thầy yêu cầu học thuộc. Nếu có phạm lỗi bị chép phạt hàng chục lần. Mục tiêu duy nhất là để thuộc và nhớ.

Nhưng đây là cách học nhàm chán và có phần trái tự nhiên. Chính vì sự nhàm chán này và cảm giác vô nghĩa khi học, mà việc học theo cách này trở thành một gánh nặng.

Nhưng cho dù có thuộc, có nhớ thì có ai kiểm chứng, và lấy gì định lượng? Thật may mắn là có các kỳ thi.

Đến đây, câu chuyện lại rẽ sang một hướng khác bất ngờ: đích đến của toàn bộ hành trình dạy và học này là các kỳ thi. Vì thế, một cách tự động, cả thầy và trò đều tự động điều chỉnh theo hướng dạy ra sao, học thế nào để thi cho tốt.

Học để trưởng thành, học để làm việc, học để làm người, hay học để trở thành những điều tuyệt vời nào đó bỗng chốc trở thành học để thi - trong sự đồng thuận ngầm của cả thầy và trò, gia đình và nhà trường.

Thế là công nghệ luyện thi ra đời. Công nghệ này trải dài đủ mọi cung bậc. Thấp thì học thuộc lòng. Nếu không đủ sức để học thuộc tất cả thì ta xoay sang học tủ. Cao hơn là ôn luyện theo văn mẫu - toán dạng, hoặc ghi nhớ các mẹo mực để có thể vượt qua kỳ thi với kết quả tốt nhất.

Nhưng do bản chất của kỳ thi là kiểm tra sự nhớ của học trò, và các đề thi cũng được thiết kế theo lối văn mẫu - toán dạng, kiểm tra thông tin và sự kiện, nên dù có thi giỏi thế nào đi chăng nữa, vẫn chỉ là kiểm tra trí nhớ. Đời người đi học đã thi bao lần, mà thi xong rồi chỉ một tháng thôi, hỏi lại cũng ú ớ như chưa từng được học.

Vì thế, học chỉ để thi. Và khi thi xong là quên hết.

Trò vì thế mà chán học và ghét đến trường. Thầy vì thế mà suy thoái trở thành thợ dạy, thợ ôn thi. Tình trạng này cứ kéo dài mãi hàng chục năm trời không có lối thoát.

Nhưng điều đáng buồn là: Không có lối thoát không phải vì không có lối thoát, mà vì sợ mất kiểm soát.

Nay trước sự phát triển của công nghệ, những người dạy và học theo cách đó sẽ không còn cơ hội phát triển. Không chỉ học trò, mà ngay cả người thầy. Nếu thầy chỉ dạy như một thợ dạy, chỉ cần một vài người dạy trực tuyến là đủ. Còn người học chỉ để nhớ, chỉ cần google là xong.

Người thầy thực sự cần phải dạy khác hơn, sâu xa hơn thế rất nhiều. Người học thực sự, cũng phải học khác hơn và sâu sắc hơn thế rất nhiều mới có thể tồn tại và phát triển được.

Vì lẽ đó, những ngày tháng này là thời khắc chuyển giao của một cách thức giáo dục mới. Thay vì giáo dục kiểu áp đặt từ thầy xuống trò, từ sách giáo khoa ra ngoài lớp học, giáo dục làm sao để chuyển qua một cách tiếp cận mới, sao cho việc học trở thành niềm vui thay vì gánh nặng.

Tôi đã dành nhiều thời gian suy nghĩ và thực nghiệm về điều này để tạo ra tiếp cận đồng kiến tạo, rồi sau đó rút gọn thành phương pháp đồng kiến tạo để mang lại niềm vui học tập cho chính con mình, và sau đó là học trò của mình.

Nói ngắn gọn, theo cách tiếp cận đồng kiến tạo thì kiến thức của học trò, rộng hơn là những gì có được trong tâm trí của học trò, phải do trò và thầy cùng làm ra, thông qua một chương trình giáo dục được thiết kế cẩn trọng, thể hiện qua một hệ thống trải nghiệm giáo dục liên hoàn và có mục đích.

Nhờ đó, học trò sẽ từng bước tạo kiến thức, kỹ năng, giá trị, nhân sinh quan, thế giới quan... cho chính mình. Thông qua đó, học trò sẽ từng bước kiến tạo chính mình dưới sự hướng dẫn của người thầy, thông qua một hệ thống trải nghiệm giáo dục liên hoàn và hướng đích, trong tinh thần giáo dục nhân văn và khai phóng.

Hạnh phúc lớn nhất của một người là được sống thật với chính mình. Con đường chắc chắn nhất để được sống thật với chính mình là tạo ra chính mình. Muốn vậy, người thầy phải xác lập một tâm thế dạy học mới, một "nền tảng không" khi bước vào lớp học, để đồng hành và đồng nhịp cùng trò, thay vì áp đặt học trò và tự biến mình trở thành trung tâm của lớp học. Chỉ bằng cách đó, trò mới có được niềm vui đến trường mỗi ngày, vì luôn được tạo ra chính mình và sống thật với chính mình mỗi ngày.

Trước thềm năm học mới, tôi không mong mỏi gì hơn, là thay vì nhồi nhét kiến thức và thi cử nặng nề, ngành giáo dục sẽ chuyển hướng theo tinh thần đồng kiến tạo, để ngày khai giảng trở thành ngày khai học, và học sinh có được niềm vui học mỗi ngày.

Giáp Văn Dương