Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

Chữ Tín

Cách đây vài năm, khi đi mua sắm ở một siêu thị lớn, gia đình tôi đã rất bối rối khi bị yêu cầu phải gửi hết đồ đạc của mình để chỉ đi người không vào mua sắm. Nhưng sự việc trở rối rắm khi chúng tôi mua đồ và thanh toán xong, vừa bước đi vài bước lại bị bảo vệ kiểm tra túi đồ của mình xem có khớp với hóa đơn không thì mới được đi về. 

Lúc đó chúng tôi đã phản đối vì cho rằng làm như thế vừa mất thời gian, vừa thiếu tôn trọng khách hàng. Anh bảo vệ chỉ nói đó là quy định mà không giải thích tại sao. Mà quả thực chúng tôi cũng không hiểu tại sao thật. 

Phải sau khi đã về nhà, thảo luận một khúc, chúng tôi mới hiểu ra rằng, bảo vệ làm thế là để tránh việc thu ngân thông đồng với khách hàng mang đồ ra khỏi siêu thị. Lúc đó, chúng tôi hơi ngốc nghếch sau hơn chục năm ở nước ngoài, nên không hiểu ra quy trình này, vì nó quá xa lạ và gây sửng sốt. Bài học tôi rút ra sau sự kiện đó là niềm tin trong xã hội đang thiếu hụt trầm trọng. 

Rồi sau đó, mỗi khi phải làm gì đó liên quan đến giấy tờ, như xin học cho con chẳng hạn, tôi để ý thấy trên hồ sơ của mình lúc nào cũng chi chít dấu đỏ. Những giấy tờ tôi dùng trước đây cũng thế, bao giờ cũng phải có ít nhất một dấu đỏ đóng trên đó thì mới đáng tin. Còn không có dấu đỏ là không có giá trị. 

Tôi bắt đầu đặt ra câu hỏi, vì sao hồ sơ giấy tờ hành chính ở nhà bao giờ cũng đỏ rực những con dấu? Vì quy trình nó thế, hay vì người ta không tin nhau, phải có con dấu thì mới đáng tin? Không có dấu đỏ, thì lời nói của anh, chữ ký của anh, dù rành rành ra đó, cũng không có chút giá trị nào cả. 

Nhưng oái ăm ở chỗ, quy trình chặt chẽ thế, nhiều dấu đỏ thế, mà chưa ở đâu tôi thấy giấy tờ văn bẳng giả nhiều như ở đây. Người ta có thể rao bán những thứ giấy tờ văn bằng giả công khai trên mạng, trong các tờ rơi dán trên tường, có cả điện thoại và tên người liên hệ đàng hoàng.

Ngày xưa, khi chưa có con dấu và nhiều người chưa biết chữ, thì người ta điểm chỉ. Lúc đó, dân ta còn chưa biết điểm chỉ là một cách lấy dấu vân tay, nên dấu điểm chỉ thường chỉ là một chấm đen xì. 

Nhưng cái chấm đen xì đó vẫn trở thành vật bảo chứng. Nó như tảng đá ở ven đường rằng, đây nhé, câu chuyện của chúng ta diễn ra ở cạnh hòn đá này đấy. Ông biết và tôi biết, có hòn đá làm chứng nữa. Chỉ như vậy thôi là đủ, không ai tính chuyện lật kèo ai vì đã có hòn đá làm chứng ở ven đường.
Ám ảnh về con dấu mạnh mẽ đến mức luật doanh nghiệp cho phép bỏ con dấu khi giao dịch mà trên thực tế, sau gần hai năm triển khai, tôi chưa thấy đơn vị nào dám bỏ con dấu. Các văn bản doanh nghiệp trình lên vẫn được yêu cầu phải đóng dấu thì mới có hiệu lực. 

Điều này trái ngược hoàn toàn với những giấy tờ hành chính tôi đã sử dụng khi còn ở nước ngoài. Tôi hiếm khi nhìn thấy con dấu đóng trên những giấy tờ đó. Tất cả chỉ là một chữ ký tay. Dù đó là giấy tờ quan trọng đến mức nào đi chăng nữa, chỉ chỉ cần người hữu trách ký vào là đủ. 

Trong các giao dịch thông thường tôi còn không cần phải ký. Chỉ cần in văn bản ra và gửi đi là xong. Nhiều trường hợp còn không cần văn bản, chỉ cần gọi điện là đủ. Sau này tôi hiểu rằng đó là cơ chế hậu kiểm. Điều này trái ngược hoàn toàn với cách tiền kiểm kỹ càng quá đáng, đến mức không tin, không quản được thì cấm, mà tất cả chúng ta đều quen thuộc. 

Và tôi quan sát thấy, ở những nơi mà tôi đã đi qua, những nơi người ta ít đóng dấu đỏ lên các văn bản như thế, thì đều là những đất nước phát triển hơn đất nước của tôi. 

Tìm hiểu thêm thì tôi hiểu ra rằng, ở những nơi đó, niềm tin đang được sử dụng như một thứ vốn xã hội. Khi người ta tin nhau thì người ta không mất thời gian công sức để kiểm tra và đề phòng nhau, vì thế mà người ta tiết kiệm được nguồn lực, và người hợp tác với nhau hiệu quả hơn. 

Việc này giúp cho năng suất lao động của cả xã hội tăng lên. Niềm tin vì thế đang hoạt động như một thứ vốn đặc biệt, gọi là vốn xã hội. Nhờ có loại vốn này mà xã hội của họ vận hành hiệu quả hơn, phát triển nhanh hơn. Còn ở ta, có cả một bộ máy hùng hậu ăn lương để chỉ làm một việc là kiểm tra lẫn nhau và tìm cách qua mặt nhau. Các bên thay vì tin nhau và hỗ trợ nhau thì lại quay ra làm khổ nhau. Vì thế mà mất thời gian, vì thế mà kém hiệu quả. 

Vốn xã hội quan trọng như vậy, nhưng làm sao để tăng vốn xã hội đây? Như đã thấy, niềm tin nằm ở trung tâm của vốn xã hội. Vì thế, bất cứ việc gì giúp tăng niềm tin thì đều giúp tăng vốn xã hội. Trong đó, quan trọng nhất là niềm tin của nhân dân và chính quyền, niềm tin của người dân với tương lai của đất nước họ, và niềm tin giữa người với người trong xã hội trong mọi sinh hoạt hằng ngày. 

Để gia tăng niềm tin đó thì những người đang cầm giữ kỷ cương của đất nước, những quan chức, phải gương mẫu trước hết. Nếu người trên không khả tín thì sao có thể đòi hỏi người dưới đáng tin. Người xưa nói, thượng bất chính hạ tắc loạn cũng là vì lẽ này vậy. 

Rõ ràng, người ta chỉ có thể tin sau khi đã hiểu. Mà để hiểu thì điều kiện tiên quyết là phải tôn trọng và lắng nghe nhau. Rồi nữa, sau khi đã hiểu và đã tin, thì các bên cần phải giữ chứ Tín của mình để duy trì niềm tin đó, phổ biến nhất là bằng cách trân trọng lời nói của mình và giữ cho hành xử của mình được nhất quán. Nếu không, bao nhiêu công sức gây dựng niềm tin cũng sẽ đổ sông đổ bể. Một lần bất tín vạn sự bất tin là vì vậy. 
Vai trò của niềm tin như một thứ vốn không chỉ đúng với xã hội mà còn đúng với cả tổ chức và các cá nhân. Với cá nhân, niềm tin chính là vốn liếng lớn nhất để một người lập nghiệp. Lớn đến mức nào? Đến mức vượt qua mọi thứ vốn liếng khác. Đến mức, mất niềm tin thì bị coi là mất tất cả. Vì sao? Vì khi mất niềm tin thì không còn ai muốn làm việc với anh, và vì thế, anh không có cách nào để thành việc cùng người khác. 

Niềm tin quan trọng như thế, nhưng ngày nay, niềm tin suy thoái đến mức, ngay cả khi đã đóng dấu, hoặc đã ký tên điểm chỉ, và có thêm cả người làm chứng, thì người ta vẫn có thể lật kèo dễ dàng. Và thường xuyên, họ biện minh đó là những giải pháp tình thế. Nghĩa là sao? Nghĩa là tình hình thế thì buộc phải thế. Nhưng hậu quả lại không thế. Hậu quả là sự đổ vỡ lâu dài, không phải là những tình thế nhất thời. Vì sao? Vì nếu người lật kèo là dân thường, thì chỉ một mối quan hệ cá nhân bị đổ vỡ. Nhưng nếu người lật kèo là quan chức, thì rường mối xã hội bị hủy hoại. Còn nếu người lật kèo là nguyên thủ, thì không chỉ an ninh quốc gia bị ảnh hưởng, mà quốc gia còn không có cách nào giao dịch làm ăn trên trường quốc tế. Trong những tình huống đó, lời nói là chữ ký. Anh nói sao thì nó sẽ là như vậy. Nếu không, anh sẽ mất lòng tin. Mà mất lòng tin là mất tất cả. 

Hẳn các doanh nhân đã hiểu rất rõ giá trị của điều này, khi họ đặt chữ Tín lên trên hết. Chính là chữ Tín, chứ không phải là chữ nào khác. Đối với doanh nhân, chữ Tín quý hơn vàng, chữ Tín là trên hết. Giữ chữ Tín vì thế trở thành lẽ sống của các doanh nhân đích thực. Giữ bằng cách nào? Phổ biến nhất là bằng cách giữ lời nói và hành động của mình được nhất quán. Họ luôn coi lời nói chính là chữ ký của mình. Chỉ cần nói ra và xác nhận với nhau là đủ, không cần đến việc phải ký kết, lại càng không cần đến việc phải đóng dấu. 

Mà ngẫm ra, câu chuyện về vai trò của niềm tin và chữ Tín không chỉ đúng với giới doanh nhân, mà còn đúng với mọi giới khác. Sở dĩ trong Đông Tây kim cổ, các chính trị gia thường bị dân chúng ghét, chủ yếu là vì họ không giữ được chữ Tín, nói một đằng làm một nẻo, chứ không phải vì họ kém tài năng hay thiếu hấp dẫn. Thực tế cho thấy, những chính trị gia nào giữ được chữ Tín thì đều được dân chúng kính trọng và có sự nghiệp đáng ghi nhận. Chữ Tín khi đó sẽ có sức mạnh đi xuyên qua những kỹ xảo ngôn từ để chạm đến trái tim người đối tiếp. 

Như thế, niềm tin là vốn liếng của xã hội. Chữ Tín vốn liếng của cá nhân. Xã hội có niềm tin thì sẽ phát triển. Có nhân có chữ Tín thì sẽ thành việc. Còn ngược lại, mất niềm tin và mất chữ Tín thì sẽ mất tất cả. 

Chân lý giản dị này ai cũng hiểu ra, nhưng phải là người bản lĩnh mới thực hiện được. 

Giáp Văn Dương
---
Bản rút gọn bài này đã đăng ở Vnexpress.net.

Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

Lương tâm và luật pháp

Giáp Văn Dương

Tôi là một phụ huynh có ba con nhỏ đang đi học. Việc này cũng chẳng có gì khác biệt với các phụ huynh khác. Nếu có khác thì đó là con tôi hay hỏi những câu trái khoáy, như con không muốn thế, nhưng quy định phải thế, thì con chọn cái nào? Và tôi, thay vì lảng tránh những câu hỏi oái oăm này, lại thường chọn cách phân tích rốt ráo cho con hiểu và để con đưa ra lựa chọn. Vì tôi cho rằng, sau khi đã hiểu thì phải chọn, đó là lựa chọn cá nhân, tôi không can thiệp. Nhưng trước khi chọn thì phải hiểu, vì một lựa chọn chỉ thực sự là một lựa chọn ở trong tự do và sau khi suy xét.

Trở lại câu chuyện của con tôi: Con không muốn thế, nhưng quy định phải thế, thực ra là một câu hỏi hóc búa. Con không muốn thế, tức con đã cảm thấy có gì đó không ổn, thấy có gì đó không đúng ở chỗ này, con không muốn tuân thủ. Cái đó là tiếng nói từ bên trong, thuộc về tự do cá nhân, thuộc về lương tâm. Còn quy định phải thế lại thuộc về ràng buộc, thuộc về luật pháp. Câu hỏi của con tôi, thực chất là câu hỏi: Giữa lương tâm và luật pháp, con nên chọn bên nào? Đây là câu hỏi lớn, không chỉ với trẻ con, mà với cả những nhà làm luật. Nhưng không vì thế mà né tránh không trả lời.

Muốn trả lời câu hỏi này, thì phải trả lời câu hỏi trước đó: Lương tâm và luật pháp đến từ đâu? Nói cách khác, phải thấu hiểu bản chất của lương tâm và luật pháp thì mới có thể đưa ra lựa chọn. 
Ngoài ra, tưởng chừng không liên quan, mà hóa ra lại rất liên quan, là trong các lựa chọn đó, cần phải trả lời một câu hỏi cốt yếu khác. Đó là: “Tôi là ai?” trong tình huống mà tôi đang đối mặt đó. Trả lời được câu hỏi “Tôi là ai?” này thì sẽ đưa ra được lựa chọn tương ứng. Nếu không, sẽ ra thành chuyện râu ông nọ cắm cằm bà kia, tưởng đúng, tưởng hơp logic, mà hóa ra lại sai, vì sai ngay từ đầu, từ cái “Tôi là ai?” này. 
Trở lại với lương tâm, câu hỏi đặt ra là: Lương tâm bắt nguồn từ đâu?

Câu hỏi này vừa to vừa khó. To vì ngoài nó ra có còn mấy vấn đề nhân sinh to hơn nó nữa đâu. Khó vì nó không định lượng được, nên chỉ có thể cảm nhận bởi người trong cuộc. Tuy không không cân đo đong đếm được, như khi đánh mất lương tâm, ta sẽ cảm nhận được ngay tức thì, vì nó chính là ta. Nó là cho ta trở thành một con người. Mất nó, ta không còn là ta nữa, nên ta nhận ra gay tắp lự. 

Tạm bỏ qua những lý luận dài dòng, ta đi thẳng vào vấn đề để trả lời một cách ngắn gọn: Lương tâm bắt nguồn từ tự do nội tại của mỗi người. Không có tự do sẽ không có lương tâm. Nhờ có tự do đó, thể hiện trước hết ở tự do nội tại ở trong sâu thẳm, mà mỗi người có được quyền lựa chọn làm và sống với những điều họ cho là thiện hảo, đúng thật. Nếu không làm vậy, họ sẽ bị dằn vặt, bị lương tâm cắn rứt. Vì sao? Vì lương tâm chính là mình, lương tâm tạo ra mình với tư cách một con người. Không có nó, mình không còn là mình, mình cũng không còn là người, nên bị dằn vặt và cắn rứt. 
Nhưng điều mà mỗi người cho là thiện hảo đúng thật đó lại thuộc về chủ quan của mỗi người. Điều thiện hảo đúng thật của anh khác của tôi. Và vì là chủ quan nên người ngoài không thể truy nhập được. Nhưng người trong cuộc thì biết và cảm nhận rất rõ. 

Vậy nên, cái gì đã thuộc về lương tâm thì hãy để mỗi cá nhân tự quyết định. Đó là tự do cá nhân, không thể ép buộc. Nếu ép buộc họ phải làm trái với điều mà họ cho là thiện hảo đúng thật đích thị là đang bắt họ làm những việc trái với lương tâm. Điều này, chắc không ai muốn. 

Theo cách nhìn đó, lương tâm là cội nguồn của đạo đức. Trong mối quan hệ với luật pháp thì lương tâm là cơ sở của luật pháp. Tuy nhiên, lương tâm không phải lúc nào cũng trùng khít với luật pháp. Lý do là lương tâm của một người là vấn đề thuộc về chủ quan của người đó, không có lương tâm chung cho tất cả mọi người. Cái ta gọi là lương tâm chung của mọi ngươi đó, trên thực tế là một thứ khác, đó là luân thường đạo lý. Luân thường đạo lý cũng giống như đạo đức, bắt nguồn từ lương tâm nhưng không phải là lương tâm. Vì thế, lương tâm của ai thì chỉ người đó mới cảm nhận được. Đó là vấn đề chủ quan. Còn luật pháp là vấn đề khách quan, có được thông qua đồng thuận. Vì thế, với luật pháp, tất cả mọi người điều phải hiểu, và lý tưởng nhất là phải hiểu giống nhau, và phải tuân thủ. 

Vì luật pháp có được thông qua đồng thuận, nên vấn đề của luật pháp là kkhông bao giờ có được sự đồng thuận tuyệt đối của tất cả mọi người. Con người vốn dĩ khác nhau, cùng một vấn đề thì trăm người trăm ý. Ngay cả khi có sự đồng thuận của đa số thì vẫn còn một nhóm nhỏ không đồng thuận. 
Cho nên, dù đã thành luật, thì luật đó lý tưởng nhất cũng chỉ là kết quả của sự động thuận của đa số, mà sự đồng thuận đó cũng chỉ có được gián tiếp thông quan người đại diện của họ. Rất phổ biến là ý kiến của người đại diện không phải là ý kiến của người dân mà họ đại diện cho. Trong trường hợp đó, dù luật có được được quốc hội thông qua đi chăng nũa, thì luật đó cũng chỉ là luật của một thiểu số, không phải là luật của đa số người dân. 

Chưa kể, bản thân luật pháp bao giờ cũng mang trong mình sự thiên vị có tính cách nội tại. Đó là sự thiên vị không thể tránh khỏi mà ở đó, quyền lợi của nhóm người làm ra luật sẽ được ưu tiên hơn so với quyền lợi của số đông còn lại. Đó là bản chất của nhận thức và của con người. Con người luôn có xu hướng ưu tiên cho quyền lợi của chính mình hơn cho quyền lợi của kẻ khác. Vậy nên, nếu tôi là người làm luật, thì luật đó sẽ phù hợp với tôi hơn là lẽ đương nhiên. Đó là lý do vì sao mà cùng một dự thảo luật, mà nhóm này đồng ý thông qua, còn nhóm khác lại nhất định chống. Mà kể cả khi đã thông qua thành luật rồi, khi nhóm khác lên nắm quyền, thì có thể họ lại tìm cách bãi bỏ dự luật đã thông qua đó. Chuyện này xảy ra khắp nơi trên thế giới. Thiết nghĩ, không cần phải bàn thêm. 

Câu hỏi đặt ra: Nếu có xung đột giữa lương tâm và luật pháp, thì ta nên chọn bên nào? 

Nếu là tôi, tôi sẽ chọn lương tâm thay vì luật pháp. Luật pháp có thể thay đổi, luật pháp mang trong mình sự thiên vị nội tại, nhưng lương tâm thì không. 

Lý luận là thế. Nhưng lý luận chỉ là lý luận, nếu không với đến được thực tế thì cũng chỉ để giải trí. Thực tế là gì, thực tế ở đây là một chủ đề nóng hổi đang diễn ra trong nghị trường: Luật sư có nên tố cáo thân chủ của mình hay không, trong trường hợp luật sư đó biết thân chủ của mình phạm tội xâm phạm anh ninh quốc gia, hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng? Nói thế cho đầy đủ bối cảnh của vấn đề, thay vì chỉ nói là phạm tội chung chung. 

Theo quy trình tố tụng, khi luật sư đã nhận lời tham gia bào chữa cho thân chủ của mình, thì thân chủ của luật sư đã bị tạm giam hoặc bị truy tố. Khi đó, hẳn các cơ quan tố tụng đã có bằng chứng về sự phạm tội của đương sự, nên không cần luật sư tố cáo nữa.

Còn nếu một luật sư biết một người nào đó phạm tội trước khi tham gia nhận lời bào chữa cho người đó, thì khi đó người luật sư chỉ là một công dân như bao công dân khác nên có quyền và trách nhiệm tố cáo theo luật định. Nhưng đó chỉ là sự tố cáo của một công dân bình thường, đã được quy định bởi pháp luật, chứ không phải với tư cách một luật sư bào chữa.

Trong cả hai trường hợp trên, luật pháp đều không cần đến sự tố cáo với tư cách luật sư mà vẫn có thể vận hành hiệu quả đúng như dự định. Thêm điều khoản luật sư tố cáo thân chủ này vào chỉ làm cho luật pháp thêm rối, lại ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của người luật sư, vì thế làm cho luật pháp trở nên kém hiệu quả. 

Vấn đề sẽ trở nên khó xử hơn trong một trường hợp khác, khi người luật sư đã ký hợp đồng tư vấn pháp lý với thân chủ của mình, thì biết thân chủ đã phạm tội, hoặc có ý định phạm tội. Trong trường hợp này, người luật sư đó có nên tố cáo thân chủ của mình hay không? 

Câu trả lời trong trường hợp này lại không đến từ vai trò luật sư, mà đến từ việc trả lời câu hỏi “Tôi là ai trong tình huống tôi đang đối mặt này?”. Người luật sư sẽ chỉ được quyền chọn một trong hai câu trả lời: Tôi là một luật sư, hoặc tôi là một công dân. Không thể đánh đồng hai vai trò này trong một tình huống cụ thể đang nói đến, vì chúng xung đột với nhau.

Nếu anh chọn là luật sư, thì anh không nên tố cáo thân chủ của mình. Như thế là vi phạm hợp đồng dân sự anh đã ký kết, lại trái với đạo đức nghề nghiệp của người luật sư. Trong trường hợp anh thấy tội của thân chủ quá nghiêm trọng, bắt buộc phải tố cáo nếu không thì lương tâm cắn rứt, thì anh phải từ bỏ vai trò luật sư để trở thành một công dân bình thường, và thực hiện việc tố cáo đó với tư cách một công dân chứ không phải với tư cách một luật sư. 

Tuy nhiên, khi làm vậy, anh phải lường trước cái giá phải trả cho sự bất tín của mình với tư cách luật sư đối với thân chủ hiện thời và với các thân chủ tiềm năng khác. Có thể từ đó về sau sẽ không còn ai ký hợp đồng tư vấn pháp lý với anh nữa. Nhưng bù lại, anh có được sự thanh thản lương tâm, vì anh thấy việc tố cáo đó là một điều thiện hảo đúng thật, anh cần phải thực hiện. Anh phải cân nhắc giữa cái giá phải trả và lợi ích mà anh thu được, trong sự soi rọi của lương tâm, rồi anh mới quyết định. Nhưng dứt khoát anh chỉ được chọn một câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai trong tình huống tôi đang đối mặt này?”: hoặc là luật sư hoặc là công dân. Nếu chọn là luật sư bảo vệ thân chủ thì anh không tố cáo, còn chọn làm công dân để tố cáo thì anh thôi là luật sự bảo vệ thân chủ. Anh không thể vừa làm luật sư bảo vệ thân chủ của mình, vừa tố cáo thân chủ của mình để tròn vai công dân được. Ép buộc luật sư phải tố cáo thân chủ của mình là trái với đạo đức nghề nghiệp của người luật sư.

Những lập luận ở trên cho thấy, việc một luật sư có tố cáo thân chủ của họ hay không là một vấn đề thuộc về lương tâm, thuộc về lựa chọn cá nhân, xuất phát từ tự do cá nhân và từ việc trả lời câu hỏi “Tôi là ai trong tình huống mà tôi đang đối mặt?” của người luật sư. Đó là những vấn đề thuộc về phạm trù chủ quan và cá nhân. Vì thế, không thể ép buộc và càng không thể đưa thành luật định. 
---

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

Con người nào cho công nghiệp 4.0?

05/05/2017 9:45:42 SA

Dù công nghệ có thay đổi bao nhiêu đi chăng nữa, thì giáo dục bao giờ cũng đều xuất phát và kết thúc ở con người. Ảnh: KINH LUÂN

(TBKTSG) - Cách mạng công nghiệp 4.0 dường như đang phả hơi nóng hầm hập vào gáy chúng ta. Dù thuật ngữ này mới xuất hiện một hai năm trở lại đây, nhưng đã trở thành từ khóa cho những thảo luận cả về chuyên môn lẫn đại chúng.
Điều này dẫn đến tình trạng là nhà nhà nói đến, người người bàn bạc về cách mạng công nghiệp 4.0 với những cảm xúc rất khó tả. Cứ y như có một cơn sóng thần đang lừng lững tiến tới, vừa tò mò, vừa sợ hãi, lại vừa thấy kích thích, nhưng không thực sự biết nó là gì, và mình sẽ làm gì với nó.
Kết quả là một sự sôi nổi bàn về cách mạng công nghiệp 4.0 trên khắp các diễn đàn. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, sôi nổi bàn thảo không có nghĩa là sẽ thành hiện thực. Chỉ mới vài năm trước đây thôi, các từ khóa “công nghiệp hóa”, “hiện đại hóa”, “trở thành nước công nghiệp vào năm 2020”, và trước nữa là “công nghiệp phần mềm”, “cách mạng khoa học - kỹ thuật”... cũng đã từng là chủ đề nóng không kém. Nhưng rồi tất cả lại nguội đi rất nhanh. Chẳng có gì xảy ra. Chẳng có gì thành hiện thực. Dường như đó chỉ là cơn trồi sụt truyền thông. Nhìn kỹ ra thì cũng không khác những cơn trồi sụt trong giới showbiz bao nhiêu.
Nay tất cả bỗng đổ xô sang bàn về cách mạng công nghiệp 4.0. Đến mức người viết có cảm giác thật là may quá, rằng cách mạng công nghiệp 4.0 xuất hiện thật là đúng lúc, rằng thật đáng ghi công vì đã cứu một bàn thua trông thấy, không thì chẳng biết ăn nói ra sao với cái việc “trở thành nước công nghiệp vào năm 2020” đã đặt ra từ nhiều năm và cũng đã tốn nhiều giấy mực.
Chỉ có một số ít người băn khoăn tự hỏi: ủa, vậy thì cách mạng công nghiệp 4.0 là cái gì vậy?
Lại một số ít hơn đi xa hơn một chút, nhưng chủ yếu vẫn ở mức chơi chữ: không có 2.0, 3.0 thì có “đi tắt đón đầu” vào 4.0 được chăng?
Lại một số ít hơn nữa băn khoăn tự hỏi: nếu có cách mạng công nghiệp 4.0, thì liệu có cách mạng giáo dục 4.0 đi kèm?
Càng ít hơn những người nghiêm túc suy nghĩ và đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi này.
Nếu có thì sự tương đồng giữa cách mạng công nghiệp 4.0 và cách mạng giáo dục 4.0 là gì? Phải chăng là ở sự tích hợp kết nối giữa bộ ba “thế giới số/ảo - thế giới vật lý/thực - con người” như quan niệm phổ biến hiện giờ?
Chưa kể, nếu đã thống nhất trọng tâm của cách mạng công nghiệp 4.0 là sự kết nối và hòa quyện của bộ ba này, thì thứ tự của nó ra sao, hay chọn cái nào là điểm nhập cuộc, cũng đã nhức đầu.
Duy trì sự kết nối tự nhiên, bảo vệ tính nhân văn,
hóa ra lại là trọng tâm của giáo dục thời cách mạng công nghiệp 4.0 đang lừng lững tới.
Hẳn nhiên, từ mỗi góc nhìn, từ mỗi ngành nghề, thứ tự nhập cuộc sẽ rất khác nhau. Ngành phần mềm sẽ chọn thế giới số/ảo làm điểm xuất phát. Nhưng ngành cơ khí, hay nông nghiệp thì rõ ràng phải chọn đi ra từ thế giới thực. Còn ngành giáo dục thì tất nhiên phải chọn con người, vì dù công nghệ có thay đổi bao nhiêu đi chăng nữa, thì giáo dục bao giờ cũng đều xuất phát và kết thúc ở con người.
Vậy là ta tạm có một sự đồng thuận cơ sở rằng: với giáo dục, chúng ta phải xuất phát từ con người.
Vấn đề đặt ra: chúng ta sẽ đào tạo con người nào cho cách mạng công nghiệp 4.0?
Mà để trả lời được câu hỏi này, chúng ta lại phải trả lời ba câu hỏi khác:
1. Thực sự, con người là gì?
2. Cách mạng công nghiệp 4.0 là gì?
3. Con người ở thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 có những đặc trưng nào?
Câu chuyện bỗng nhiên trở thành nhức đầu và quá sức. Nhức đầu vì một bước đi thẳng vào câu hỏi muôn thuở của triết học: con người là gì? Quá sức vì hiện giờ chưa có đủ thông tin và dữ liệu để nói chính xác về cách mạng công nghiệp 4.0 và con người của thời cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ có những đặc trưng gì? Mọi ý kiến đều là phỏng đoán.
Nhưng không lẽ chúng ta cam phận “nhắm mắt đưa chân”, phó mặc tương lai của mình cho thời cuộc? Xin lưu ý, một trong những đặc trưng của con người là ở khả năng tự đặt ra câu hỏi “Người là gì?”, để từ đó đưa ra lựa chọn, hầu phần nào tự quyết tương lai của mình.
Với tư cách là một người trong cuộc, bắt đầu triển khai những công việc có liên quan đến cách mạng công nghiệp 4.0, người viết bài này lại thấy rõ: dù là dự đoán, nhưng cách mạng công nghiệp 4.0 đang xảy ra và đã len lỏi trong đời sống. Dù thấy rõ hay mập mờ, nhưng khung cửa sổ đó đã hé lộ. Chỉ có điều, chúng ta có kịp bắt lấy và bước lên, hay lại hụt chân như bao chuyến tàu trước.
Vì thế, dù chưa có đủ dữ liệu, chúng ta vẫn có quyền và có khả năng đặt ra câu hỏi: con người của cách mạng công nghiệp 4.0 là gì? Chính nhờ việc đặt ra câu hỏi này, hành trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này, và hành trình tạo ra chính mình thông qua việc hiện thực hóa những câu trả lời này, trong sự tương tác không ngừng nghỉ của một đời sống cách mạng công nghiệp 4.0 đang hình thành, chúng ta sẽ trở thành con người của cách mạng công nghiệp 4.0, hoặc nạn nhân của cách mạng công nghiệp 4.0.
Việc trở thành con người của cách mạng công nghiệp 4.0, tức con người có khả năng làm chủ bản thân mình và làm chủ cái món 4.0 này, hay trở thành nạn nhân của nó, lại phụ thuộc phần lớn vào chương trình giáo dục, những chương trình được thiết kế ra ngày hôm nay để đào tạo con người làm chủ xã hội, làm chủ nền kinh tế - kỹ nghệ của 15-20 năm sau nữa.
Mới chỉ thấy con số này đã phát hoảng. Với tốc độ hiện giờ, chỉ cần cách mạng công nghiệp 3.0 thì chúng ta đã không hình dung được chuyện gì sẽ xảy ra 10 năm sau, như 10 năm về trước, không ai hình dung được sự ra đời của iPhone và dòng điện thoại cảm ứng thông minh, nhưng nay lại trở thành vật bất ly thân của phần đông cư dân thành thị.
Cũng chẳng ai nghĩ rằng một công ty tư nhân có thể phóng vệ tinh đưa người lên sao hỏa, hay cả thế giới sẽ được kết nối với nhau thông qua một vài mạng xã hội... Những chuyện này tưởng chừng chỉ có trong tiểu thuyết giả tưởng, nhưng sau chục năm đã trở thành chuyện thường ngày ở huyện.
Đấy, 3.0 mà đã như thế, thì 4.0 sẽ còn nhanh hơn. Chúng ta không thể biết được chắc chắn chuyện gì sẽ xảy ra sau 15-20 năm nữa để lên chương trình giáo dục cho con em mình. Đấy là khi chúng ta có tự do để quyết định, có đủ sự cởi mở để hướng đến tương lai. Còn khi vẫn bị ràng buộc bởi quá khứ, giới hạn bởi ý thức hệ, thì câu chuyện còn u ám hơn nhiều.
Nhìn vào dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới ban hành và lấy ý kiến, chúng ta sẽ thấy sự lo lắng này là rất thật. Khi cả thế giới nói về 4C trong giáo dục như một khung tham chiếu (Communication - giao tiếp; Collaboration - hợp tác; Creativity - sáng tạo; Critical Thinking - tư duy phê phán) thì dự thảo chương trình này nghiễm nhiên bỏ đi chữ C cuối cùng mà không hề giải thích lý do, thì những người quan tâm đến giáo dục sẽ biết rằng, dự thảo giáo dục này vẫn còn nửa vời, và sẽ nên bắt tay vào chuẩn bị một dự thảo khác, dần là vừa.
Một chi tiết mấu chốt khác, là triết lý giáo dục cũng không hề được nhắc đến trong “Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể”. Khi triết lý giáo dục không được làm rõ thì việc những điểm bế tắc của giáo dục sẽ vẫn còn đó như mấy chục năm qua, và câu hỏi mấu chốt “Vậy thì nền giáo dục này sẽ đào tạo con người nào, con người tự do hay con người công cụ?” vẫn không có lời giải đáp.
Dù Bộ Giáo dục và Đào tạo có đưa ra dự thảo nào đi chăng nữa thì cách mạng công nghiệp 4.0 vẫn lừng lững đi tới. Như một cơn sóng thần. Ai không chuẩn bị và thấu hiểu sẽ trở thành nạn nhân của chính nó.
Một trong những vấn đề chúng ta cần phải chuẩn bị và đối mặt, là chưa bao giờ tính nhân văn bị đe dọa và xuống thấp như bây giờ. Đây không còn là một nguy cơ mà là một hiện thực đã len lỏi trong mọi gia đình. Cứ nhìn cuộc chiến giữa cha mẹ, con cái với chiếc điện thoại là đủ thấy. Vì đâu? Vì sự phát triển của công nghệ đang vượt quá kinh nghiệm của chúng ta, và vì sự tụt hậu của giáo dục so với những gì đang diễn ra trong cuộc sống.
Vì thế, trong lúc chờ đợi ngài Godot mang chương trình giáo dục 4.0 tới, chúng ta phải tự cứu mình trước, bằng cách bảo vệ sự kết nối tự nhiên giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, và tính nhân văn đang mỗi lúc mỗi vơi dần.
Bằng cách nào?
Bằng cách bỏ tờ báo này xuống và quay sang mỉm cười với người bên cạnh. Nếu được thì thêm một cái siết tay. Rồi tự thưởng cho mình vài phút thảnh thơi để hòa nhịp cùng thiên nhiên và cuộc sống.
Aha... duy trì sự kết nối tự nhiên, bảo vệ tính nhân văn, hóa ra lại là trọng tâm của giáo dục thời cách mạng công nghiệp 4.0 đang lừng lững tới.
Giáp Văn Dương
---

Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

Những cánh chim cuối đàn

GIÁP VĂN DƯƠNG

Tranh ghép gốm của họa sĩ Lê Thiết Cương

Chính thị trường và sự cạnh tranh lành mạnh sẽ quyết định đâu là những cánh chim đầu đàn, chứ không phải sự ưu ái của ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước chỉ nên tập trung cho những cánh chim cuối đàn, thông qua việc đảm bảo một mức sàn tối thiểu chung, và nâng cấp mức sàn này mỗi khi nguồn lực tăng thêm.

Chính thị trường và sự cạnh tranh lành mạnh sẽ quyết định đâu là những cánh chim đầu đàn, chứ không phải sự ưu ái của ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước chỉ nên tập trung cho những cánh chim cuối đàn, thông qua việc đảm bảo một mức sàn tối thiểu chung, và nâng cấp mức sàn này mỗi khi nguồn lực tăng thêm.

Những ngày này, thế giới vẫn chưa thoát ra khỏi ảnh hưởng của cơn địa chấn chính trị: Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ, bất chấp sự phản đối ra mặt của truyền thông chính thống, và phần lớn giới học giả tinh hoa trong suốt hành trình chạy đua vào Nhà Trắng.

Sự kiện này làm cả thế giới phấp phỏng, vì chủ nghĩa dân tộc thể hiện qua chiến dịch tranh cử và cách hành xử khó đoán định của Donald Trump, có thể gây ảnh hưởng lớn đến thế giới.

Lý do vì sao Trump thắng cuộc đã được cả thế giới mang ra mổ xẻ, trong đó nổi bật nhất là quy việc chiến thắng của Trump cho sự ủng hộ của nhóm người Mỹ bị bỏ rơi trong nền kinh tế toàn cầu hóa. Họ là những người chịu thiệt ở trong lòng nước Mỹ, nên đã ủng hộ Trump với chính sách “Nước Mỹ trên hết” và khẩu hiệu tranh cử “làm cho nước Mỹ vĩ đại một lần nữa”.

Họ được ví như những con chim cuối đàn của cả một đàn chim. Nhưng chính họ, những con chim cuối đàn đó, đã quyết định hướng đi của nước Mỹ trong những năm tới, chứ không phải là giới tinh hoa hay truyền thông chính thống, tạm được hiểu như những con chim đầu đàn trong cả đàn chim nước Mỹ.

Câu chuyện về ảnh hưởng của một nhóm đi sau đến chuyển hướng chiến lược của một quốc gia, trong hành động hoặc nhận thức, không chỉ dừng ở ví dụ trên, mà còn xuất hiện ở khắp mọi nơi, trong đó có Việt Nam.

Sự kết nối dày đặc trong xã hội, nhờ thông tin và hệ thống giao thông, đã làm cho một sự kiện xảy ra một bất cứ đâu trong một quốc gia, cũng có khả năng ảnh hưởng đến đời sống chung của toàn xã hội.

Cuối đàn có gây ảnh hưởng?

Tôi đã có một thời gian dài nghĩ rằng, sự phát triển của xã hội được quyết định bởi nhóm tinh hoa dẫn dắt. Nói một cách hình ảnh thì đó là: Những con chim đầu đàn sẽ quyết định tốc độ và hướng bay của cả đàn chim.

Nhận thức này hiển nhiên đến mức không cần phải chất vấn lại. Trong số những người tôi quen biết, cũng không thấy ai đặt lại vấn đề này.

Tuy nhiên, những trải nghiệm thực tế làm tôi ngày càng nhận ra rằng: Những con chim đầu đàn sẽ lạc lõng, thậm chí lạc lối, nếu tách khỏi những con chim cuối đàn. Và phản ứng của những con cuối đàn cũng đóng vai trò quan trọng như những con đầu đàn trong việc quyết định hướng bay và tốc độ của cả đàn chim.

Với xã hội, câu chuyện cũng diễn ra tương tự. Cuộc sống và cách thức phản ứng của những nhóm chịu thua thiệt, tức những con chim cuối đàn, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra ổn định và phát triển chung cho cả xã hội.

Có thể thấy rõ điều này trong một câu chuyện nhãn tiền: Trong khi đóng góp của những người được coi là thuộc nhóm tinh hoa vào việc thúc đẩy văn hóa chưa rõ được bao nhiêu, thì chỉ cần một vài người Việt ăn cắp ở nước ngoài, hay một nhóm nhỏ hành hung du khách trên đất Việt, thì cũng đủ sức kéo tụt vị trí của Việt Nam trong thang bậc văn minh của thế giới.

Rộng hơn, nếu như hàng ngàn nhà khoa học chưa chắc đã thúc đẩy được sự tiến bộ của xã hội được bao nhiêu, thì chỉ cần sự xuất hiện của vài kẻ khủng bố cũng có thể gây náo loạn, thậm chí kéo lùi, cho toàn xã hội cả chục năm. Trong trường hợp này, rõ ràng những con chim bay cuối đàn đang chi phối hướng bay và tốc độ của cả đàn chim.

Sở dĩ có chuyện như vậy là vì trong xã hội hiện đại dày đặc liên thông và kết nối này, mỗi người đều tồn tại và hiện hữu trong sự tương thuộc với những người khác. Thông qua vô vàn kết nối, chuyển động của bất cứ con chim nào, dù ở đầu hay cuối đàn, cũng có khả năng tác động đến số phận của cả đàn chim.

Đây là một sự chuyển đổi nhận thức có ảnh hưởng quan trọng trong việc ban hành các chính sách về quốc kế dân sinh, đặc biệt trong việc sử dụng ngân sách nhà nước.

Ngân sách, thay vì tập trung cho những con chim đầu đàn, với hy vọng họ sẽ trở trành lực lượng dẫn dắt, thì sẽ hiệu quả hơn nếu dành cho những con chim đang bay ở cuối đàn.

Ví dụ thứ nhất, trong kinh tế, các công ty nhà nước, trên mọi văn bản, vẫn đang được coi là xương sống của nền kinh tế, tức những cánh chim dẫn dắt, nên được hưởng nhiều ưu ái về đầu tư, từ đất đai đến tiếp cận tài chính. Trong khi đó, khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì hầu như không được ưu đãi gì. Tuy nhiên, đóng góp của những đầu đàn này không đáng kể gì, cả trong hiệu quả kinh doanh lẫn tạo công ăn việc làm. Còn chính tốc độ phát triển của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tức những cánh chim hiện đang ở cuối đàn này, sẽ quyết định sự phát triển của nền kinh tế.

Ví dụ thứ hai là về giáo dục, với đề án 911, với kế hoạch đào tào tạo 10.000 tiến sĩ ở nước ngoài và kinh phí dự kiến 14.000 tỉ đồng cho giai đoạn 2010 - 2020.

Giả sử phần ngân sách này để đầu tư giáo dục cho người nghèo, cho vùng sâu vùng xa, thì hiệu quả chung tính cho toàn xã hội có tăng lên?

Cũng giống như chính sách ưu đãi cho những “quả đấm thép” trong kinh tế, cơ sở sâu xa của các đề án này vẫn là quan niệm: Đầu tư cho nhóm tinh hoa dẫn dắt thì hiệu quả sẽ cao hơn.

Nói một cách hình ảnh, những đề án như thế này được xây dựng dựa trên một quan niệm: Những con đầu đàn sẽ quyết định tốc độ bay của cả đàn chim.

Nhưng sự thật có phải là như vậy?

Cần một nhìn nhận mới

Thay vì đầu tư cho những con chim đầu đàn này, hãy dành phần ngân sách đó để hỗ trợ những con chim cuối đàn, tức những người đang gặp khó khăn trong tiếp cận giáo dục, thì có thể hiệu quả đầu tư sẽ cao hơn nếu xét cho toàn xã hội.

Đầu tư cho những cánh chim cuối đàn, thay vì những cánh chim đầu đàn, cũng phù hợp với các lý thuyết về đầu tư rằng, khi trình độ phát triển còn ở mức thấp, thì với cùng một suất đầu tư, tốc độ phát triển sẽ cao hơn so với khi trình độ đã ở mức cao, tức hiệu quả chung sẽ cao hơn nếu đầu tư cho những con chim cuối đàn.

Ngoài ra, nếu dành quan tâm đến những con chim cuối đàn như vậy, tính nhân văn, sự đoàn kết và tinh thần tương thân tương ái, những giá trị không thể quy đổi thành tiền, sẽ được đảm bảo tốt hơn. Sự công bằng trong phân bổ nguồn lực cũng cao hơn, vì một sự thật không thể phủ nhận, những con chim cuối đàn, do vị trí của mình, bao giờ cũng thiệt thòi trong việc tiếp cận thông tin và nguồn lực chung.

Đến đây, xuất hiện một câu hỏi: Như vậy, có phải đó cũng là một sự bất công với những cánh chim đầu đàn?

Câu trả lời đơn giản là không. Những cánh chim đầu đàn thực sự sẽ phải tự khẳng định vị trí của mình bằng khả năng tự vươn lên, chứ không phải thông qua các ưu đãi từ ngân sách, vốn dĩ luôn hạn hẹp.

Việc đầu tư cho các cánh chim đầu đần này, hãy để cho thị trường thực hiện. Chính thị trường và sự cạnh tranh lành mạnh sẽ quyết định đâu là những cánh chim đầu đàn, chứ không phải sự ưu ái của ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước chỉ nên tập trung cho những cánh chim cuối đàn, thông qua việc đảm bảo một mức sàn tối thiểu chung, và nâng cấp mức sàn này mỗi khi nguồn lực tăng thêm. Còn mức trần, hãy để cho thị trường quyết định.

Vì một thực tế không thể phủ nhận, những con chim cuối đàn đang ngày càng có vai trò lớn hơn trong việc quyết định hướng bay và tốc độ của cả đàn chim, vì thế cần được quan tâm đúng mức, nếu muốn giữ thế cân bằng sự phát triển bền vững của cả đàn chim.
---
Bài đã đăng báo Lao Động, số Tết 2017.

Thứ Hai, 29 tháng 2, 2016

Lãnh đạo có nghĩa là gì?

27/02/2016 12:18:16 CH

Giáp Văn Dương
(TBKTSG) - Chọn ra dàn lãnh đạo. Việc này tưởng chừng quá đơn giản, ai chẳng biết vì báo chí truyền thông cập nhật mỗi giờ, cho đến khi có một câu hỏi... cắc cớ xuất hiện: Lãnh đạo có nghĩa là gì?
Rõ ràng là nếu không hiểu được lãnh đạo có nghĩa là gì, thì làm sao có thể chọn ra nhà lãnh đạo đúng?
Lưu ý rằng, câu hỏi ở đây là “Lãnh đạo có nghĩa là gì?”, chứ không phải “Lãnh đạo là gì?”. Nếu hỏi “Lãnh đạo là gì?”, chúng ta sẽ đi vào bế tắc, vì sẽ sa vào định nghĩa, mà định nghĩa thì thường trừu tượng và phiến diện.
Chính việc sa vào câu hỏi “Lãnh đạo là gì?” một cách phổ biến đã đẩy phần lớn chúng ta đi đến một quan niệm cũng phổ biến không kém: Lãnh đạo là một vị trí có quyền lực. Vị trí và quyền lực thường gắn liền với nhà lãnh đạo, nhưng về bản chất nó không đồng nhất với sự lãnh đạo.
Vậy nên, thay vì hỏi “Lãnh đạo là gì?”, ở đây sẽ chọn một cách khác hữu dụng hơn: Lãnh đạo có nghĩa là gì? Cách đặt câu hỏi này sẽ giúp chúng ta thoát khỏi cái bẫy định nghĩa trừu tượng và phiến diện, để đi thẳng vào những nội dung thực chất và cụ thể của sự lãnh đạo, và những việc mà nhà lãnh đạo phải làm.
Vậy lãnh đạo có nghĩa là gì? Để trả lời câu hỏi này, trước hết cần trả lời một câu hỏi trước đó: Một người đến vị trí lãnh đạo bằng cách nào?, và một câu hỏi sau đó: Người đó, sau khi đã đạt vị trí lãnh đạo, sẽ làm gì với tư cách nhà lãnh đạo?
Trong câu hỏi thứ nhất, nhìn qua lịch sử ta sẽ thấy một người có thể đến vị trí lãnh đạo bằng rất nhiều cách khác nhau, nhưng tựu chung có thể chia thành hai cách phổ biến sau: Đến được vị trí lãnh đạo theo kiểu cha truyền con nối hoặc thông qua sắp xếp hay chiếm đoạt; hoặc được bầu chọn làm lãnh đạo thông qua bầu cử dân chủ và minh bạch.
Sự khác biệt giữa hai cách này là ở cách thức mà quyền lực, và do đó cả sự lãnh đạo nói chung, đến với người đó. Nếu ở cách thứ nhất, quyền lực và sự lãnh đạo đến với một người thông qua sự kế truyền, sắp xếp hay chiếm đoạt thì trong cách thứ hai, quyền lực và do đó cả sự lãnh đạo, đến với người đó thông qua sự ban trao từ phía người dân. Trong trường hợp thứ nhất, danh xưng thích hợp cho người đó sẽ là nhà cầm quyền, còn trong trường hợp thứ hai, danh xưng đúng đắn sẽ là nhà lãnh đạo. Đó là điều khác biệt cơ bản giữa nhà lãnh đạo thực sự và nhà cầm quyền mang danh lãnh đạo.
Vậy nên, với một nhà lãnh đạo thì quyền lực và bản thân sự lãnh đạo bao giờ cũng là một sự ban trao. Người dân ban trao cho người đó sự lãnh đạo, và do đó cả quyền lực đi kèm, thông qua bầu cử dân chủ và minh bạch. Và vì ban trao nên bao giờ cũng có thời hạn, và khi nào nhận ra người đó không còn xứng đáng, hoặc nhận ra sự nhầm lẫn của mình, người dân sẽ lấy lại sự ban trao đó. Cơ chế kiểm soát quyền lực và văn hóa từ chức xuất hiện chính từ lý do này.
Giờ sang câu hỏi thứ hai: Một người sau khi được ban trao sự lãnh đạo thì anh ta sẽ làm gì?
Thông thường, ta sẽ hình dung rằng anh ta sẽ quản lý và vận hành tổ chức, hoặc đất nước của mình với tư cách nhà lãnh đạo. Nhưng nếu chỉ như vậy thì một nhà quản lý sẽ phù hợp hơn, cần gì đến một nhà lãnh đạo?
Một nhà lãnh đạo phải được sinh ra sẽ để làm những điều khác nhà quản lý. Chỉ khi làm được những việc khác hơn việc quản lý và vận hành hàng ngày, anh ta mới xứng đáng là nhà lãnh đạo.
Nếu nhà quản lý sẽ chủ yếu sống ở hiện tại để kiểm soát và vận hành các chương trình, kế hoạch, nhà lãnh đạo sẽ chủ yếu sống ở tương lai, để thiết kế ra những chương trình và kế hoạch đó như là một phần của một tương lai chung, một tương lai tốt hơn cho tất cả mọi người. Nhà lãnh đạo cũng phải thuyết phục mọi người tin vào tương lai chung đó, để cùng nhau tham gia hiện thực hóa nó. Nhà lãnh đạo vì thế sẽ là hiện thân của tương lai của tổ chức hay đất nước mà anh ta lãnh đạo.
Chính vì lẽ đó, nhà lãnh đạo sẽ đòi hỏi phải có những phẩm chất khác thường so với nhà quản lý, lại càng khác so với phẩm chất của nhà cầm quyền. Trước hết, nhà lãnh đạo đòi hỏi phải có tầm nhìn xa và rộng để thấy được tương lai, từ đó thiết kế ra một tương lai mới tốt hơn cho tất cả mọi người. Sau đó, nhà lãnh đạo phải thuyết phục mọi người tin vào tương lai chung đó và cùng nhau góp sức hiện thực hóa tương lai đó. Mà để làm được điều đó, nhà lãnh đạo phải có được sự tin tưởng của những người được anh ta lãnh đạo. Sự tin tưởng đó sẽ căn cứ không chỉ trên viễn cảnh mà nhà lãnh đạo vẽ ra, mà còn được tích tụ từ vô số các tương tác trong quá khứ, mà ở đó đạo đức và sự khả tín của nhà lãnh đạo đóng vai trò quyết định. Vì thế, tính cách và đạo đức của nhà lãnh đạo chứ không phải kiến thức chuyên môn thường đóng vai trò quyết định trong việc có được sự tin tưởng này.
Để hiện thực hóa được tương lai mà nhà lãnh đạo thiết kế ra, nhà lãnh đạo phải huy động nguồn lực và sự hợp tác của tất cả người dân trong một thời gian dài. Để làm được điều này, nhà lãnh đạo bị đòi hỏi phải có thêm ít nhất là ba phẩm chất tối quan trọng: chính trực vẹn toàn trong lời nói và việc làm của mình để duy trì sự tin tưởng, giúp cho công việc lãnh đạo không bị đổ vỡ; bao dung hội hợp để có thể chứa chấp tất cả các cách nghĩ, cách nhìn và cách đóng góp khác nhau từ mọi phía mọi người; và một sứ mệnh lớn hơn mối quan tâm của bản thân, gia đình hay hội nhóm của mình. Nếu không có chúng thì sự lãnh đạo sẽ không bao giờ có thể thành công.
Trở lại câu hỏi đầu tiên, lãnh đạo có nghĩa là gì? Câu trả lời giờ đã rõ ràng hơn, rằng: Lãnh đạo và kèm theo nó là vị trí và quyền lực, là sự ban trao của người dân đối với người mà mình tin tưởng thông qua bầu cử dân chủ và minh bạch. Lãnh đạo là một sự ban trao chứ không phải một sự sắp xếp. Công việc chính của nhà lãnh đạo là thiết kế ra một tương lai chung tốt hơn cho tất cả mọi người, thuyết phục mọi người tin tưởng và cùng nhau hiện thực hóa tương lai chung đó.
Nếu nhà lãnh đạo không làm được như vậy thì người dân đã ban trao nhầm người. Trong trường hợp này, tốt nhất là người dân có quyền và có cơ chế để rút lại sự ban trao này để tìm người xứng đáng. Nếu không, họ sẽ chỉ có một nhà cầm quyền thay vì một nhà lãnh đạo.

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

Lãnh đạo và cầm quyền

Giáp Văn Dương 

Trong những năm học tập và làm việc ở nước ngoài, một trong những điều tôi luôn lưu ý tìm hiểu là: Vì sao họ lại phát triển, còn mình thì không? 

Tôi nhận ra rằng, thoạt nhìn thì câu trả lời có thể là do thể chế, hoặc do văn hóa, hoặc do những đặc thù về vị trí địa lý. Nhưng khi suy nghĩ kỹ hơn thì thấy rằng, phía sau tất cả các yếu tố này, bao giờ cũng thấp thoáng hình bóng của nhà lãnh đạo xuất sắc. Có thể nhà lãnh đạo chính là người tạo ra các yếu tố này, hoặc chính là người đã khai thác hiệu quả các yếu tố này, để dẫn dắt sự phát triển của dân tộc họ. Ngay cả khi không có một nhà lãnh đạo xuất sắc hiện diện ở ngay trong hiện tại, thì thể chế ưu việt và nền văn hóa tích cực do những nhà lãnh đạo tiền bối của họ kiến tạo ra vẫn đang đóng vai trò dẫn dắt. Khi đó, chính những nhà lãnh đạo quá cố đó, vẫn đang tiếp tục lãnh đạo gián tiếp đất nước của họ thông qua các di sản về thể chế và văn hóa mà họ đã gây dựng. 

Như vậy để thấy, lãnh đạo chính là yếu tố mang tính quyết định đến sự phát triển của một tổ chức, và rộng hơn là của cả một dân tộc. Đặc biệt là trong các thời khắc khó khăn thì vai trò của nhà lãnh đạo lại càng lớn, do phải đương đầu với những tình huống chưa từng gặp qua và đòi hỏi phải ra được những quyết định chính xác mang tính sống còn. Vì thế có thể nói, giới hạn của nhà lãnh đạo chính là giới hạn phát triển của tổ chức mà người đó lãnh đạo, và giới hạn phát triển của một dân tộc, cũng bị quy định bởi chính giới hạn của những người đang lãnh đạo dân tộc đó. Nói cách khác, lãnh đạo là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển hoặc kìm hãm đất nước. Lựa chọn lãnh đạo đất nước chính là lựa chọn vận mệnh của cả dân tộc. 

Trong một thế giới nhiều biến động, vai trò của nhà lãnh đạo lại càng nổi bật và trở nên quan trọng. Vì vai trò của nhà lãnh đạo là để chèo lái quốc gia trong những hoàn cảnh khó khăn hoặc bất định hoặc đòi hỏi sự bứt phá. Nếu không có khó khăn, không có bất định, hoặc không đòi hỏi sự bứt phá thì khi đó chỉ cần một nhà quản lý có năng lực để đảm bảo mọi việc diễn ra theo cách bình thường, chứ không cần đến một nhà lãnh đạo đích thực. Vì nhà quản lý sẽ tập trung vào việc thực hiện các kế hoạch đã đặt ra, còn nhà lãnh đạo sẽ thiết kế và hiện thực hóa một tương lai hoàn toàn mới, một sự phát triển mang tính bứt phá, hoặc một chuyển hướng mang tính chiến lược có ảnh hưởng tốt đẹp cho nhiều thế hệ kế tiếp. 

Vì quan trọng như vậy, nên lãnh đạo bao giờ cũng là một quan tâm của mọi giới trong xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở mọi nước trên thế giới. Với hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam, thì chất lượng lãnh đạo lại càng quan trọng, khi phần lớn người dân Việt Nam không được trực tiếp lựa chọn lãnh đạo tối cao của mình. 

Thực tế phát triển của các quốc gia cho thấy, đất nước nào lãnh đạo anh minh thì dân tộc đó cất cánh chỉ trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, có thể chứng nghiệm trong một đời người, mà Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore là những ví dụ nhãn tiền, còn dân tộc nào có lãnh đạo u mê thì dân tộc đó chìm trong nghèo hèn hàng thế kỷ, không biết khi nào mới ngóc đầu lên được, thậm chí, ngay sự tồn tại của mình cũng không chắc được đảm bảo. 

Từ trong sâu thẳm, nhà lãnh đạo bao giờ cũng mang trong mình những sứ mệnh lớn hơn bản thân, gia đình hoặc phe nhóm của mình. Đó có thể là sứ mệnh giải phóng dân tộc, hoặc tạo ra một sự phát triển vượt bậc cho dân tộc, hoặc giải phóng con người ra khỏi u mê giáo điều. Chính sứ mệnh lớn lao đó chứ không phải những kiến thức chuyên môn, hoặc bè phái cấu kết, làm lên tầm vóc của nhà lãnh đạo, và tạo ra sự phát triển cho cả dân tộc mà họ lãnh đạo. 

Chính nhà lãnh đạo đó sẽ là người thiết kế ra những tương lai mới, và thuyết phục được toàn dân tin tưởng vào tương lai đó, để sau đó huy động toàn lực để hiện thực hóa tương lai đó. Thông qua đó, nhà lãnh đạo nhận được sự tin tưởng, và bản thân sự lãnh đạo, như một sự ban trao từ phía người dân. Nếu người được bầu chọn không có khả năng thiết kế ra một tương lai như vậy, và không có khả năng thuyết phục toàn dân tin tưởng vào tương lai đó, và không thể tập hợp được đủ người tài và nguồn lực để hiện thực hóa tương lai đó, thì đó là một sự lựa chọn nhầm lẫn. Trong trường hợp đó, cùng lắm chúng ta cũng chỉ có một nhà cầm quyền, chứ không phải là một nhà lãnh đạo. 

Vậy nên, muốn phát triển, dù là một tổ chức hay một đất nước, thì điều kiện tiên quyết là tổ chức hoặc đất nước đó phải lựa chọn được một nhà lãnh đạo tối cao xuất chúng. Đó phải là một nhà lãnh đạo đích thực, chứ không phải là một nhà cầm quyền, dù về mặt hình thức, lãnh đạo và cầm quyền có nhiều nét tương đồng. 

Lưu ý rằng, sự lãnh đạo và sự tin tưởng đích thực, bản thân nó không tự xuất hiện với nhà lãnh đạo, cũng không thể giành giật được, mà chỉ có thể có được thông qua sự ban trao từ phía những người được lãnh đạo. Nếu không được ban trao, sự lãnh đạo chỉ có thể gọi tên là sự tiếm quyền. Vì thế, nhà lãnh đạo chỉ xuất hiện khi việc bầu cử được diễn ra trong dân chủ, công khai và minh bạch. 

Giờ vừa sang năm 2016, Việt Nam dự kiến sẽ sớm hội nhập sâu rộng với thế giới sau khi hiệp định TTP được ký kết. Nhu cầu phát triển bứt phá của Việt Nam cũng đang là yêu cầu bức thiết, khi chỉ còn khoảng 10 năm nữa thôi là thời kỳ dân số vàng để phát triển sẽ qua đi và bẫy thu nhập trung bình thì đang giăng ra trước mắt. Trong hoàn cảnh đó, một nhà lãnh đạo đích thực là điều mà Việt Nam cần nhất. 

Nhưng nhìn quanh thấy thời khắc chuyển giao lãnh đạo đang diễn ra rầm rộ, mà câu chuyện về lãnh đạo vẫn chưa được bàn thảo đầy đủ. Ngoài việc bàn tán ai đi ai ở, với hàm ý ai sẽ nắm quyền lực, thì câu hỏi cơ bản: lãnh đạo có nghĩa là gì, và lãnh đạo khác với cầm quyền như thế nào, lại không thấy ai bàn. 

Vậy tại sao lại không đi thẳng vào câu hỏi này: Lãnh đạo có nghĩa là gì, và lãnh đạo khác cầm quyền ở điểm nào? 

Khi đã chọn nhìn thẳng vào những câu hỏi căn cốt như thế, thì cách hiểu về lãnh đạo và lựa chọn lãnh đạo cũng sẽ khác đi. Ai đi ai ở không phải là quan trọng nhất, mà ai xứng đáng là lãnh đạo và làm sao để có được người xứng đáng đó mới là điều cốt yếu. 

Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ chỉ một điểm này. Những nội dung khác, sẽ bàn trong các dịp thuận tiện khác. 

Trước hết cần lưu ý, vì lãnh đạo thường gắn liền với quyền lực và chức vị, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị, nên khi nói đến lãnh đạo, người ta sẽ liên hệ ngay đến chức vị và quyền lực. Do đó, lãnh đạo thường bị đồng nhất với cầm quyền. Nhưng lãnh đạo và cầm quyền là khác nhau về bản chất. Nhà lãnh đạo không nhất thiết phải có chức vị và phải cầm quyền, còn người cầm quyền, dù có cả chức vị đi theo, cũng chưa chắc đã là nhà lãnh đạo. Chính sự nhầm lẫn về lãnh đạo và cầm quyền đã gây ra những cuộc đua nắm giữ quyền lực không phải cách, dẫn đến việc tạo ra các nhà cầm quyền tiếm danh lãnh đạo, thay vì các nhà lãnh đạo đích thực. Và quyền lực trong trường hợp này trở thành mục tiêu của nhà cầm quyền tiếm danh lãnh đạo, thay vì là công cụ của của nhà lãnh đạo đích thực. 

Vậy sự khác biệt đó là gì? 

Cách thức đạt được quyền lực 

Điểm khác biệt đầu tiên là khác biệt trong cách thức đến với quyền lực. Đây là điểm khác biệt mấu chốt, dẫn đến các cách hành xử khác nhau của nhà lãnh đạo đích thực và nhà cầm quyền mang danh lãnh đạo. Với nhà lãnh đạo chính trị, quyền lực và rộng hơn là sự lãnh đạo, phải được ban trao từ phía người dân trong sự tin tưởng và tự nguyện. Còn với nhà cầm quyền mang danh lãnh đạo, quyền lực này có thể đến được thông qua sắp đặt hoặc chiếm đoạt. 

Vì sự lãnh đạo là được ban trao từ phía người dân, nên khi thấy nhà lãnh đạo không đáp ứng được kỳ vọng của mình, người dân có quyền và có cơ chế để lấy lại sự ban trao này. Vì thế, lãnh đạo bao giờ cũng gắn liền với nhiệm kỳ. Còn cầm quyền thì ngược lại, quyền lực đến với nhà cầm quyền không bởi sự ban trao, mà qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt, nên về bản chất là không có nhiệm kỳ, và nhân dân bị ngăn cản để lấy lại quyền lực lẽ ra sẽ thuộc về nhà lãnh đạo do nhân dân lựa chọn. Vì lẽ đó, với nhà lãnh đạo thì quyền lực chỉ là một phương tiện để thực hiện công việc lãnh đạo của mình. Còn với nhà cầm quyền, quyền lực trở thành mục đích. 

Lưu ý rằng, sự ban trao lãnh đạo này chỉ có thể được thực hiện thông qua bầu cử dân chủ và minh bạch. Điều đó có nghĩa, bầu cử để lựa chọn nhà lãnh đạo là quan trọng, nhưng cách thức bầu cử còn quan trọng hơn. Chỉ thông qua bầu cử dân chủ, nhà lãnh đạo mới được ban trao quyền lực. Còn bất kỳ hình thức ban trao nào khác, dù nhân danh bất cứ điều gì hoặc bất cứ giá trị nào, như dòng dõi của các hoàng gia, hay đức tin của các tôn giáo, hay đề cử riêng của các đảng phái, hay bất cứ một nhân danh nào khác ngoài lá phiếu của người dân, thì đó không phải là một sự ban trao đích thực, mà thực chất là một sự sắp xếp. Lãnh đạo có được thông qua sắp xếp, dù theo chủ ý nhất thời của một thế lực nào đó, hoặc là sự mở rộng tự nhiên của truyền thống, thì cùng lắm cũng chỉ có thể là nhà cầm quyền. Còn nếu không thì sẽ rơi vào trạng thái bù nhìn cho các thế lực hậu trường giật dây. 

Đó là lý do vì sao ở các quốc gia quân chủ lập hiến, khi ngôi vua được kế thừa theo kiểu cha truyền con nối, thì ngôi vua đó chỉ có giá trị biểu trưng về mặt văn hóa và truyền thống, đóng vai trò như một kết nối trong khối đoàn kết của toàn dân, còn nhà lãnh đạo thực sự đang dẫn dắt quốc gia đó vẫn phải được bầu theo nhiệm kỳ để thông qua đó, nhà lãnh đạo được ban trao quyền lực. 

Bản chất công việc lãnh đạo 

Điểm khác biệt thứ hai là khác biệt trong công việc thực sự của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền. Với nhà lãnh đạo, công việc của anh ta là thiết kế một tương lai chung cho tất cả mọi người, thuyết phục được mọi người tin tưởng vào tương lai đó, và cuối cùng là tìm mọi cách để hiện thực hóa tương lai đó. Anh ta được ban trao quyền lực, và rộng hơn là ban trao sự lãnh đạo, để thực hiện công việc thiết kế tương lai và hiện thực hóa tương lai này. Thiết kế tương lai chung, trước hết dưới dạng các viễn cảnh được mô tả rõ ràng và thuyết phục, và sau đó là tìm mọi cách để hiện thực hóa tương lai đó, là công việc chủ chốt của nhà lãnh đạo. 

Nhưng với nhà cầm quyền, vì quyền lực và vị trí của họ không đến thông qua sự ban trao tự nguyện của người dân, công việc của nhà cầm quyền sẽ chỉ tập trung vào việc giữ cho bằng được quyền lực và vị trí của mình. Họ sẽ tìm mọi cách hợp thức hóa việc nắm giữ quyền lực và vị trí này, thông qua mọi phương tiện, không chỉ tuyên truyền mà còn cả đe dọa và đàn áp. 

Ngay cả khi nhà cầm quyền chủ ý thiết kế và hiện thực hóa một tương lai nào đó, thì tương lai này vẫn sẽ bị giới hạn bởi điều kiện tiên quyết là không ảnh hưởng đến quyền lực và vị trí anh ta đang nắm giữ. Vì thế, tương lai đó không bao giờ là tương lai tốt nhất có thể có, và chỉ có thể đáp ứng được mối quan tâm của một nhóm người có lợi ích liên quan, chứ không phải của tất cả mọi người, trừ phi nhà cầm quyền tự chuyển hóa trở thành nhà lãnh đạo. 

Miền thời gian lưu trú 

Điểm khác biệt thứ ba là miền thời gian mà nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền đến sống và làm việc ở trong đó. Với nhà lãnh đạo, miền thời gian mà họ sống và làm việc là tương lai của chính dân tộc họ, và họ phải là hiện thân của chính tương lai đó. Vì thế, họ phải là người có tầm nhìn, phải có khả năng nhìn thấy tương lai, từ đó thiết kế ra một tương lai tốt hơn cho tất cả mọi người và tạo động lực để tất cả mọi người cùng hiện thực hóa tương lai đó. Nhà lãnh đạo tìm thấy bản thân mình và tính chính danh trong công việc của mình ở trong tương lai. Nhưng tương lai bao giờ cũng bất định, vì lẽ đó, nhà lãnh đạo đòi hỏi không chỉ giỏi về chuyên môn, mà quan trọng trước hết là bản lĩnh dám đối mặt với sự thay đổi, dám ra những quyết sách lớn và dám chịu trách nhiệm với những quyết sách lớn đó. Nhưng các nội dung này lại phải đặt trong bối cảnh của sự ban trao quyền lãnh đạo từ phía người dân, nên nhà lãnh đạo trước hết phải có đạo đức để tạo ra sự tin tưởng, và khả năng tập hợp người tài để sau khi đã thiết kế ra một tương lai chung, thì còn phải hiện thực hóa tương lai đó. 

Còn nhà cầm quyền thì ngược lại, họ sẽ thường trú ngụ trong quá khứ, vì chỉ trong quá khứ, nơi các sự kiện đã xảy ra, họ mới tìm ra được các lý do để biện minh cho sự tồn tại của mình ở trong hiện tại, theo nghĩa hiện tại là sự nối dài của quá khứ. Còn trong tương lai, các sự kiện chưa xảy ra, nên dù có muốn, họ cũng không thể sử dụng. Vì thế, nhà cầm quyền sẽ không cần bản lĩnh đương đầu với một tương lai bất định, mà chỉ cần nhiều mưu mô để bày binh bố trận, sắp xếp quá khứ và hiện tại sao cho có lợi nhất cho mình. Nhà cầm quyền cũng sẽ không cần người tài để hiện thực hóa một tương lai đã được thiết kế, mà cần trước hết các bè phái hoặc nhóm lợi ích thân tín để bảo vệ lẫn nhau và duy trì quyền lực cũng như vị trí hiện thời. 

Trong nhiều trường hợp, nếu nhà cầm quyền cũng quan tâm đến tương lai và thiết kế ra một tương lai mới, thì phải xét xem tương lai đó đáp ứng được lợi ích chính của nhóm đối tượng nào. Nếu tương lai đó chỉ phục vụ cho lợi ích của một nhóm, nhưng nhân danh cả dân tộc, thì đó là một thủ thuật của nhà cầm quyền, còn nếu tương lai đó đáp ứng lợi ích chung của toàn dân, thì trong trường hợp đó, nhà cầm quyền đã tự chuyển hóa thành nhà lãnh đạo. 

Như vậy có thể thấy, nhà lãnh đạo là người sống trong vùng thời gian từ hiện tại đến tương lai, còn nhà cầm quyền sẽ sống trong vùng thời gian từ hiện tại đến quá khứ. Vậy nên, khi nghe các ứng viên thuyết trình, nếu họ nói về tương lai và về chương trình hành động để hiện thực hóa tương lai đó, và thuyết phục người dân tin tưởng vào tương lai đó và đồng lòng hiện thực hóa nó, ta biết đó là nhà lãnh đạo. Còn nếu ứng viên nói về quá khứ, và dùng quá khứ như một sự đảm bảo cho tính chính đáng của mình, thì ta biết đó là nhà cầm quyền. 

Một cách logic, chỉ người sống trong tương lai mới có thể đưa toàn dân đi đến tương lai. Sự phát triển đột phá sẽ chỉ xảy đến trong trường hợp này. Còn người sống trong quá khứ, sẽ muốn toàn dân trú ngụ ở trong quá khứ, đặc biệt là quá khứ có chút hào quang. Tuy nhiên, thời gian không ngừng trôi, tương lai không thể tránh, nên tương lai trong trường hợp của nhà cầm quyền sẽ là chỉ đơn thuần là sự mở rộng của quá khứ. Nó chỉ đơn thuần là sự tịnh tiến trong thời gian của quá khứ. Mọi sự đều có thể đoán biết trước mà không có sự phát triển đột phá nào có thể đến. Đó chính là lý do vì sao các thể chế phong kiến có thể kéo dài hàng nghìn năm mà sự phát triển cứ như giậm chân tại chỗ. Vì họ chỉ sống trong quá khứ, luôn lấy quá khứ làm chuẩn mực, nên không vượt qua được quá khứ của mình. Mà đã không vượt qua được quá khứ của mình thì thời gian trôi họ cũng sẽ chỉ giậm chân tại chỗ mà thôi. 

Nếu giậm chân tại chỗ có thể là mục đích của nhà cầm quyền, thì đó là điều không nhà lãnh đạo nào mong muốn. Vì khi để dân tộc giậm châm tại chỗ, trong khi các dân tộc khác vẫn không ngừng mải miết tiến lên, nhà lãnh đạo đã không hoàn thành sứ mệnh của mình, vì thế sự lãnh đạo mà họ đã được ban trao sẽ bị nhân dân lấy lại. Còn nhà cầm quyền thường tìm cách kiểm soát xã hội để ngăn chặn nguy cơ này, nên họ có thể hài lòng với trạng thái giậm chân tại chỗ này, miễn sao quyền lực và vị trí của mình được đảm bảo. 

Hệ thống chính trị hướng đến 

Điểm khác biệt thứ tư là khác biệt ở hệ thống chính trị nhà lãnh đạo hoặc nhà cầm quyền xây dựng lên. 

Để thực hiện được công việc lãnh đạo của mình, một trong những nền tảng bắt buộc nhà lãnh đạo phải có, đó là sự chính trực vẹn toàn trong công việc và lời nói của mình. 

Lý tưởng của nhà lãnh đạo, ước mơ hay khát vọng của họ, không ai có thể truy nhập trực tiếp được. Nhưng người dân sẽ biết được gián tiếp những điều đó thông qua lời nói và việc làm của nhà lãnh đạo. Và quan trọng hơn, người dân có thể giám sát được những điều đó, để từ đó tin tưởng và ban trao sự lãnh đạo. Chỉ khi được ban trao sự lãnh đạo, trong tin tưởng và tự nguyện, thì nhà lãnh đạo mới có thể hành xử công việc lãnh đạo của mình. Và cũng chỉ khi đó, các dự án lãnh đạo mới có thể thành việc. 

Sự chính trực vẹn toàn này sẽ không chỉ dừng ở trong lời nói và việc làm của nhà lãnh đạo, mà phải được mở rộng ra cả hệ thống mà người đó thiết kế và vận hành, và thể hiện ra thành sự minh bạch. Một hệ thống chính trực là một hệ thống minh bạch. Chính vì vậy, nhà lãnh đạo bao giờ cũng hướng đến việc xây dựng một hệ thống minh bạch, còn nhà cầm quyền thì không. Vì với nhà cầm quyền, quyền lực đến được không qua sự ban trao, mà qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt. Vì thế, nhà cầm quyền sẽ không quan tâm đến sự tin tưởng của người dân, mà tập trung vào tuân thủ và đàn áp. 

Để công việc lãnh đạo được thành công, nhà lãnh đạo bắt buộc phải thuyết phục được toàn dân tham gia, và huy động được mọi nguồn lực của người dân, để hiện thực hóa các dự án lãnh đạo của mình, hay rộng hơn là toàn bộ tương lai mà nhà lãnh đạo thiết kế ra. Để làm được điều này, yêu cầu tiên quyết là toàn dân phải có cơ hội được tham gia ngay từ những khâu đầu tiên, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người đại diện của mình. 

Muốn vậy, nhà lãnh đạo phải có thêm một nền tảng cốt yếu khác, là bao dung hội hợp. Chỉ khi có được sự bao dung hội hợp thì nhà lãnh đạo mới có thể thu hút được đủ người tài, và có được đủ sự ủng hộ của toàn dân để hiện thực hóa các chương trình lãnh đạo của mình. 

Với hoàn cảnh lịch sử đặc thù của Việt Nam, khi chiến tranh xảy ra liên miên, chia cắt lòng người còn nặng nề, thì bao dung hội hợp lại càng trở nên quan trọng trong sự phát triển của đất nước. 

Sự bao dung hội hợp này, cũng tương tự như chính trực vẹn toàn, phải được mở rộng ra cả hệ thống chính trị mà nhà lãnh đạo xây dựng lên. 

Vậy đâu là một hệ thống có khả năng bao dung hội hợp với mọi người dân? Rõ ràng, đó chỉ có thể là một hệ thống dân chủ. Vì hệ thống dân chủ cho phép mọi người dân đều có cơ hội được tham gia và đóng góp, được bày tỏ chính kiến của mình trong việc phát triển đất nước. Còn một hệ thống độc tài sẽ không có khả năng làm được việc này. 

Và trở lại cách thức đạt được quyền lực rằng, nhà lãnh đạo sẽ đạt được quyền lực thông qua sự ban trao, mà cụ thể là một cuộc bầu cử dân chủ và minh bạch, còn nhà cầm quyền sẽ đạt được quyền lực thông qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt, sẽ thấy rằng nhà lãnh đạo sẽ hướng đến việc xây dựng một hệ thống chính trị dân chủ, không chỉ vì một hệ thống như vậy sẽ mang lại tính chính danh cho quyền lực và vị trí mà họ đang nắm giữ, mà nó còn là một công cụ đắc lực để họ huy động mọi người lực trong việc hiện thực hóa các chương trình lãnh đọa của mình. Còn nhà cầm quyền sẽ lảng tránh việc này, vì nó đe dọa trực tiếp đến quyền lực và vị trí mà họ đang có được thông qua sắp xếp hoặc chiếm đoạt. 

Vậy nên, nhìn vào hệ thống chính trị đang được xây dựng, có thể biết được đó là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền. 

Sứ mệnh cá nhân 

Điểm khác biệt thứ năm là sứ mệnh cá nhân mà nhà lãnh đạo hoặc nhà cầm quyền tự đặt ra cho mình. 

Nhà lãnh đạo, xuất phát từ cách thức đạt được quyền lực và bản chất công việc của mình, thường tự đặt ra một sứ mệnh cá nhân lớn lơn mối quan tâm của bản thân, gia đình hoặc phe nhóm mình, tức gắn liền sứ mệnh cá nhân của mình với tương lai của cộng đồng mình dẫn dắt. Vì sao vậy? Vì chỉ thông qua cách đó, nhà lãnh đạo mới có được sự tin tưởng và ban trao sứ mệnh lãnh đạo của người dân. Và cũng chỉ bằng cách đó, nhà lãnh đạo mới có thể thuyết phục người dân tin vào tương lai mà nhà lãnh đạo thiết kế ra, và cùng hợp tác với nhà lãnh đạo để hiện thực hóa tương lai đó. Nếu sứ mệnh của nhà lãnh đạo chỉ đơn thuần là để vinh thân phì gia, hoặc chỉ nhằm mang lại lợi ích cho phe nhóm mình, thì không có cách nào thuyết phục được người dân tin tưởng để ban trao sự lãnh đạo. Đó là lý do vì sao trong các cuộc bầu cử dân chủ, nhà lãnh đạo tương lai luôn phải truyền thông và trình bày về chương trình hành động của mình, để thông qua đó người dân thấy và đánh giá được tương lai mà nhà lãnh đạo dự kiến sẽ tạo ra có đáng thuyết phục, sứ mệnh của nhà lãnh đạo có gắn với mệnh vận mệnh của dân tộc hay không. Chính vì lẽ đó, một nhà lãnh đạo đích thực luôn mang trong mình một sứ mệnh cá nhân lớn lao, và luốn hướng đến việc trở thành và hành động bởi những điều lớn hơn bản thân, gia đình hay phe nhóm của mình. 

Nhà cầm quyền thì ngược lại. Do cách thức đạt được quyền lực thông qua kế truyền, sắp xếp hoặc chiếm đoạt, và bản chất của công việc cầm quyền là tìm mọi cách để hợp thức hóa và duy trì quyền lực đã có, sứ mệnh của nhà cầm quyền thường chỉ giới hạn trong việc duy trì và trục lợi từ quyền lực đang có, cho cá nhân, gia đình hoặc phe nhóm của mình. Nhà cầm quyền không quan tâm đến việc mình có được người dân tin tưởng ban trao cho sự lãnh đạo hay không, nên không có động lực đặt ra những sứ mệnh cá nhân lớn hơn bản thân mình, và xông pha gánh vác những công việc khó khăn liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc. Trong hầu hết các trường hợp, nhà cầm quyền sẵn sàng hy sinh lợi ích của dân tộc để đánh đổi lấy lợi ích cá nhân. Lịch sử khắp nơi đã cho thấy, nhiều nhà cầm quyền sẵn sàng đánh đổi chủ quyền hoặc đẩy dân tộc đến bước tồn vong chỉ để duy trì sự cầm quyền hoặc bảo vệ lợi ích của cá nhân mình. Thậm chí, họ sẵn sàng mua bán đổi trác lợi ích của dân tộc chỉ để thỏa mãn hưởng thụ cá nhân, nhiều khi chỉ tính bằng một vài cuộc ăn chơi trác táng. Đó là lý do vì sao ở những nước dân chủ, đạo đức cá nhân hay cách thức sử dụng tài sản công lại là vấn đề quan trọng và nhạy cảm với nhà lãnh đạo. Nhiều người đã phải từ chức vì những vụ việc cá nhân cỏn con như vậy. Nhưng dưới con mắt của người dân thì vấn đề không hề cỏn con chút nào, bởi qua đó, người dân sẽ nhận ra sứ mệnh trong công việc mà anh đang thực thi, và nhận diện ra anh là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền. Nếu đó là nhà cầm quyền, người dân sẽ thu hồi lại sự lãnh đạo mà họ đã ban trao, trước hết thông qua công luận, sau là qua các thủ tục pháp lý nếu cần, vì thế nhà lãnh đạo không còn cách nào khác là phải từ chức. 

Tâm thế hành xử 

Điểm khác biệt thứ sáu là khác biệt trong tâm thế hành xử của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền. Xuất phát từ cách thức đạt được quyền lực, và bản chất của công việc lãnh đạo và cầm quyền là khác nhau, nên tâm thế hành xử của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền cũng khác nhau. Nếu như nhà lãnh đạo dám nhìn thẳng vào hiện tại, đối mặt với hiện tại theo cách nó đúng là như vậy, để từ đó tìm ra sự thật và các cơ hội, các điều kiện tốt nhất để hiện thực hóa tương lai mà họ thiết kế ra, thì nhà cầm quyền sẽ thường nhìn hiện tại qua lăng kính bảo vệ quyền lực, vì thế thường thấy hiện tại như một sự đe dọa, do đó thường chỉ nhìn ra các thế lực thù địch, nguy cơ và sự bất an. Vì lẽ đó, nếu nhà lãnh đạo luôn là người có tâm thế chủ động khi đối mặt với hiện tại, theo nghĩa luôn chủ động tìm ra sự thật và kết nối các sự thật, tổ chức các nguồn lực hiện có của hiện tại để hiện thực hóa tương lai mà họ đã thiết kế ra, thì nhà cầm quyền sẽ luôn ở trong tâm thế bị động trước hiện tại, khi luôn coi hiện tại là một mối đe dọa cần xử lý, thậm chí ngay cả khi anh ta chủ động xử lý hiện tại như xử lý một mối đe dọa thì trên thực tế đó vẫn là một sự bị động vì hiện tại đang diễn biến theo hướng buộc anh ta phải làm như vậy. 

Chính vì thế, nhìn phong thái hành xử của những người đứng đầu của tổ chức, và rộng hơn là của đất nước, trước những diễn biến của hiện tại, chúng ta sẽ biết được đó là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền. 

Hiển nhiên, một người chủ động là một người có khả năng tạo ra sự thay đổi và làm chủ sự thay đổi đó. Đó là một người có quyền lực thực sự. Còn một người bị động thì muốn hay không anh ta vẫn chỉ là nạn nhân của sự thay đổi. Đó là một người không có quyền lực thực sự, dù trên thực tế anh ta có đủ quyền uy và chức vị để hành xử như một người có quyền lực. Điều này cũng dễ hiểu khi ta trở lại cách thức đạt được quyền lực của nhà lãnh đạo và nhà cầm quyền, và thấy rằng, quyền lực thực sự chỉ có được khi nó được ban trao trong sự tin tưởng và tự nguyện, còn quyền uy có thể đạt được thông qua sắp xếp hoặc cưỡng đoạt. 

Nói cách khác, nhà lãnh đạo có được quyền lực thông qua sự ban trao, trong tự do và tin tưởng. Còn nhà cầm quyền có được quyền uy thông qua sự sắp xếp và chiếm đoạt, trong mưu mô và đe dọa. 

Chuyển hóa cầm quyền – lãnh đạo 

Cần lưu ý là có tồn tại sự chuyển hóa qua lại giữa lãnh đạo và cầm quyền. Nếu như trong quá khứ, một người hoặc nhóm người đã từng là nhà lãnh đạo vì họ được người dân tin tưởng trao quyền lãnh đạo, do họ đã tạo ra được một tương lai chung đáp ứng được mối quan tâm của tất cả mọi người, họ thuyết phục mọi người tin theo và bản thân họ là người nỗ lực hiện thực hóa tương lai đó, mà thường gặp nhất là lãnh đạo của các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, thì rất có thể sau đó khi sứ mệnh ban đầu đã hoàn tất, họ sẽ không còn là nhà lãnh đạo nữa, mà đã chuyển hóa thành nhà cầm quyền khi chỉ tập trung vào việc duy trì quyền lực của mình, và dùng hào quang của quá khứ để hợp thức hóa sự cầm quyền đó, trong khi tương lai mà họ hướng đến chỉ nhằm đáp ứng mối quan tâm của chính họ và một nhóm người có lợi ích liên quan chứ không phải là một tương lai chung đáp ứng mối quan tâm của tất cả mọi người. Trong trường hợp ấy, người đó hoặc nhóm người đó đích thị là một nhà cầm quyền, chứ không phải nhà lãnh đạo. 

Ngược lại, một nhà cầm quyền khi chuyển đổi công việc của mình từ việc tìm mọi cách bảo vệ quyền lực và lợi ích của mình hiện thời, sang thiết kế một tương lai chung cho toàn dân tộc, thuyết phục toàn dân tin vào tương lai đó và nỗ lực hiện thực hóa nó thì nhà cầm quyền khi đó đã chuyển hóa trở thành nhà lãnh đạo. Trong nhiều trường hợp, tuy sự chuyển hóa này không đủ rõ ràng về hình thức, và nhà cầm quyền tuy vẫn mang danh là nhà cầm quyền, thậm chí mang danh độc tài, thì về nội dung, người đó đã tự chuyển hóa để trở thành nhà lãnh đạo, vì công việc người đó thực hiện và sứ mệnh mà người đó gánh vác là công việc và sứ mệnh của nhà lãnh đạo, cho dù cách thức đến với công việc và sứ mệnh đó không được chính danh thông qua sự ban trao của người dân. Tuy nhiên, lịch sử sẽ công bằng nhìn ra người đó là nhà lãnh đạo hay nhà cầm quyền, và sẽ ghi nhận đầy đủ những gì mà người đó đóng góp. 

Với Việt Nam, câu chuyện về lãnh đạo và cầm quyền là câu chuyện thời sự. Chúng ta đã từng có nhà lãnh đạo, nhưng chưa bao giờ chúng ta thiếu các nhà lãnh đạo như hiện giờ. Nhìn đâu cũng chỉ thấy nhà cầm quyền, ở mọi cấp độ. Câu hỏi đặt ra là: Liệu chúng ta có tiếp tục cần các nhà cầm quyền? Hiển nhiên là không, chúng ta cần các nhà lãnh đạo chứ không cần các nhà cầm quyền. Nhưng bằng cách nào để có được các nhà lãnh đạo, và làm sao để tạo ra một môi trường để cho nhà lãnh đạo xuất hiện và thực hiện công việc của mình? 

Câu trả lời xin bỏ ngỏ cho những ai đang suy tư và hành động để thúc đẩy sự phát triển đất nước, và đặc biệt cho những người trong cuộc chuyển giao quyền lực đang diễn ra những ngày đầu năm 2016 này. 

Bão trong miệng chén

Giáp Văn Dương

Chiều nay một bạn giáo viên trẻ trong nhóm của tôi trở lại văn phòng để hàn huyên sau một tuần ra đời dạy học.

Ngỡ ngàng như từ cổ tích bước ra đời thực. Chống chếnh như từ đời thực bước ra cổ tích. Đang chỗ này mà như ở chỗ nào. Xa lạ mà thân quen rồi thân quen mà thành xa lạ. Vào đời rồi như được thấy mình mà lại không được thấy mình. Khắc khoải vào ra khắc khắc khoải vào ra muốn đi mà lại không đi muốn khác mà lại không muốn khác. Đời diễn nhịp của đời em diễn nhịp của em để mình theo đời hay là đời theo em bỗng thành ngoài sức với.

Bỗng thành ngoài sức với…

Thôi cứ thì để sếp tính mình cứ dạ vâng mình là lính mới mình chỉ đi nhẹ cười duyên chỉ đi nhẹ cười duyên duyên. Quyết tâm không nói quyết tâm không ý kiến quyết tâm (đủ ba lần).

Một thoáng xốn xang khi nào mình được làm chủ nhiệm vì được làm chủ nhiệm sẽ có nhiều cải thiện.

Hai trăm triệu…

Ngoài kia những công văn đang bay phấp phới những chỉ thị đang bay phấp phới. Câu chuyện mới bỗng trở thành muôn câu chuyện cũ của muôn câu chuyện cũ. Đã bảo khác đi đã muốn khác đi đã định khác đi nhưng ai cho phép được khác đi. Mà muốn khác đi thì phải nói rõ khác đi là gì mà không ai nói rõ khác đi là gì. Là gì?

Im lặng…

Thôi thì ông chẳng bà chuộc truyền thông vào cuộc ào ào đập phá bà con vào cuộc ào ào hô hét. Câu chuyện nát bét giữa một cơn chén ở trong miệng bão. À mà không giữa một cơn bão ở trong miệng bão ở trong miệng chén. À mà quên giữa một cơn bão ở trong miệng chén. Chết chửa!

Chuyện này là tốt chuyện này phải tốt cơ quan bảo vậy nhưng dân không bảo vậy. Chuyện này là hay chuyện này phải hay thống kê bảo vậy nhưng báo không bảo vậy. Ai cho phép được tốt ai cho phép được hay ai cho phép được khác đi ai cho phép được nguyên như cũ!

Canh hẹ…

Nhân danh ai cho phép được cũ mà nhân danh ai cho phép được mới. Năng lực thì tốt tích hợp thì hay nhưng bỗng giật mình rồi bỗng giật giật mình nồi cơm của ta không còn Thạch Sanh như trước. Không còn Thạch Sanh như trước (lắc đầu).

Nhà quan đi trước làng nước đi sau đàn kiến sau rốt trên đỉnh ngọn đa gặp phải cành cụt di ra đi vào. Gặp phải cành cụt đi đâu bây giờ. Đi đâu bây giờ?

Lô tô chứng khoán chuyện ở ngoài kia hay chuyện ở đây ngay trong học đường. Thống kê cho thấy mọi chuyện đều tốt mọi thứ đều tốt cớ sao kêu gào mà sao kêu gào mọi chuyện đều tốt.

Tụ hội về đây bá quan văn võ à mà còn đâu bá quan văn võ tụ hội về đây cùng nhau giảng dạy cùng nhau giảng giải dự án băng băng băng băng dự án. Dzô!!!

Cuộc chiến cũ mới ai bảo cuộc chiến cũ mới? Hoàng hôn đã xuống đến giờ ăn cơm.

Đến giờ ăn cơm nhưng không ăn cơm vì tiếc hoàng hôn vì tiếc thời gian vì đời quá ngắn. Để lại dấu ấn nhưng làm sao để lại dấu ấn khi ta không muốn để lại dấu ấn. Huyễn tưởng!

Bê một tách trà nhìn trong cơn bão tìm trong cơn bão một chốn bình yên. Bình yên?!

Ngoài kia trẻ thơ vẫn cười vẫn nói ngoài kia cuộc đời vẫn chảy vẫn trôi ngoài kia cây táo vẫn đang nở hoa mà không hay biết vì sao nở hoa.

Em ơi, thôi đừng băn khoăn thôi đừng khắc khoải mình cứ là mình em cứ là em buồn em khóc em vui em cười vào giờ lên lớp em dạy tận tâm có gì không ưng thì em ý kiến.

Thì em ý kiến cho đời thêm trong thì em kiến kiến cho đời thêm xanh thì em ý kiến cho học trò em có được niềm vui cho học trò em được học được chơi cho học trò em được trở thành người cho học trò em làm người đúng nghĩa.

Em không gây hại…

Rồi em thanh thản rồi em thảnh thơi rồi em sẽ thấy cơn bão sẽ qua rồi em sẽ thấy bão trong tách trà rồi em sẽ thấy đời không vướng bận.

Vui lên em ơi. Vui bước vào đời…

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2015

Ba chìa khóa phát triển

Giáp Văn Dương

Năm 2015 này, Việt Nam kỉ niệm 70 năm ngày độc lập. Vậy mà Việt Nam cũng chỉ vừa mới thoát ra khỏi nhóm các ước nghèo được một vài năm, trong khi nhìn những nước xung quanh, thì thấy trong cùng khoảng thời gian tương tự hoặc ngắn hơn, họ đã sải bước trước ta quá nhiều: Singapore chỉ cần một thế hệ để vươn lên từ một làng chài nghèo thành quốc gia ‘hạng nhất’; Hàn Quốc cũng chỉ cần chưa đầy hai thế hệ sau cuộc chiến tàn khốc để vươn lên từ nước đói nghèo thành nước phát triển. 

Còn Việt Nam sau gần bẩy mươi năm độc lập và bốn mươi năm hòa bình thì vừa bước chân ra khỏi vũng nghèo và đang bị rình rập bởi nguy cơ vỡ nợ.

Nếu tính cuộc đời làm việc trung bình của mỗi người là 30 năm, thì Việt Nam đang ở giữa thế hệ thứ 3 sau ngày độc lập. Cha ông ta nói, không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời. Hy vọng trong thế hệ thứ ba này, Việt Nam sẽ vươn lên chạm ngưỡng nước phát triển. 

Muốn vậy, những cánh cửa phát triển phải được mở ra. Vấn đề đặt ra: Đâu là chìa khóa, và ai đang nắm giữ những chìa khóa, để mở cánh cửa phát triển này?

Năng lực lãnh đạo

Chìa khóa đầu tiên và phát huy tác dụng ngay tức thì, đó là năng lực lãnh đạo (leadership) của những người cầm lái, ở bất cữ lĩnh vực và cấp độ nào. Năng lực lãnh đạo hiện đang quá yếu và không tương xứng với các đòi hỏi của phát triển. Các mô típ lãnh đạo thời chiến, lại nặng tính quan trường kiểu phong kiến đã lạc hậu, nhưng vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong thời bình, mà điển hình là sự áp đặt máy móc bởi những mệnh lệnh ‘hành là chính’, hoặc các chính sách trên giời, từ trên xuống dưới.

Con người không phải là những cỗ máy vô tri vô cảm, nên sự áp đặt kiểu này luôn phản tác dụng, thậm chí trong cả hoàn cảnh rất khắc nghiệt của thời chiến, khi sự tuân thủ là cần thiết để đảm bảo mạng sống cho tất cả mọi người.

Để giải quyết rốt ráo bài toán năng lực lãnh đạo này, không có cách nào khác là cải cách cơ chế bầu cử, bổ nhiệm công chức và trọng dụng người tài. Nhìn sang nước tạo ra phát triển đột phá, thấy họ tìm mọi cách để thu hút người tài khắp nơi trên thế giới về làm việc cho mình. Nếu người tài không thể làm việc và không có môi trường để phát huy hết khả năng của mình thì giấc mơ phát triển sẽ không bao giờ trở thành hiện thực.

Câu chuyện lãnh đạo và trọng dụng người tài này đã được nhiều người gióng lên suốt hàng chục năm qua nhưng không có chuyển biến gì đáng kể. Vậy những người thuộc thế hệ thứ 3, tức những người vẫn được coi là trẻ này, lại không ở trong hệ thống, cũng không thuộc diện được ‘cơ cấu’, sẽ làm gì trong bối cảnh này?

Rất may là năng lực lãnh đạo ngày nay đã không còn chỉ bó hẹp trong lĩnh vực chính trị. Dù rằng, chính trị là lĩnh vực quan trọng nhất cần phải cải cách để tạo sự phát triển, nhưng các lĩnh vực khác cũng đang rất cần những tài năng lãnh đạo trẻ để thổi thêm luồng sinh khí mới và để được dẫn dắt. Đó có thể là trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, hoặc các hoạt động thuần túy dân sự v.v…

Trong sự liên thông mang tính bản chất, sự thay đổi tích cực trong đời sống dân sự sẽ có tác động trở lại với các hoạt động chính trị. Vì suy cho cùng, mục đích tối hậu của chính trị là để phục vụ người dân, giúp họ sống tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn. Nếu không thì chính trị không thể tồn tại lâu dài.

Vậy nên, nếu bạn là thủ khoa mà thi trượt công chức thì cũng đừng lấy đó làm buồn. Sẽ đáng buồn hơn nếu bạn tìm cách yên phận ở trong hệ thống, thay vì bước ra ngoài để trở thành một lãnh đạo trẻ, dẫn dắt đời sống đang quẩn quanh bế tắc.

Nhìn xa hơn thì chính những tài năng lãnh đạo dân sự này sẽ là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước chứ không phải những công chức sáng cắp ô đi chiều cắp ô về. Chiếc chìa khóa phát triển này đang nằm trong người dám đảm đương trách nhiệm dẫn dắt này. Họ là những người thuộc thế hệ thứ ba. 

Có chìa khóa trong tay, nhưng có dám dùng nó để mở cánh cửa phát triển hay không thì lại đòi hỏi lòng quả cảm để vượt qua thói quen nương tựa đã trở thành cố hữu.

Đổi mới sáng tạo

Chiếc chìa khóa thứ hai để mở cánh cửa phát triển là thực hành đổi mới sáng tạo trong mọi lĩnh vực. Đời sống cá nhân bạn đang bế tắc ư? Hãy đổi mới sáng tạo sao cho sinh động và đầy màu sắc. Công nghệ mà doanh nghiệp bạn sử dụng đang lạc hậu ư? Hãy cải tiến để có công nghệ tốt hơn, sản phẩm chất lượng hơn? Quy trình quản trị của tổ chức bạn đang kém hiệu quả ư? Còn chần chừ gì nữa, hãy xắn tay lên thay vì ngồi trách móc. 

Bất cứ ngóc ngách nào của đời sống, trong bất cứ lĩnh vực gì, ở bất cứ qui mô nào, cũng đang cần tinh thần đổi mới sáng tạo hơn bao giờ hết. Vì sao vậy? Vì sự trì trệ đã đến ngưỡng. Vỡ nợ quốc gia là nguy cơ đang hiển hiện trước mắt. Thất nghiệp, bế tắc, khó khăn, bạo động… đã trực ở đầu ngõ, có thể xông vào nhà bất cứ lúc nào. 

Trong hoàn cảnh đó, nếu không đổi mới sáng tạo thì sẽ chết, không chừa bất cứ người nào. 

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, một trong những nút cổ chai phát triển của Việt Nam hiện thời là năng suất lao động quá thấp. So với các nước phát triển, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn hàng chục lần. Cùng khoảng thời gian làm việc, cùng sức vóc mà một người của họ làm việc bằng hàng chục người của mình, thì làm sao ta có thể cạnh tranh với họ được? Gải pháp là đâu? Là thực đổi mới sáng tạo, vì đâu còn đường nào khác.

Không chỉ dừng ở trong công nghệ, lĩnh vực quản trị cũng đang bức bách không kém. Sự đổi mới thể chế suy cho cùng cũng là đổi mới sáng tạo ở trong quản trị. Vì thế, khi thực hành đổi mới sáng tạo công nghệ và quản trị, sức tác động của nó sẽ vô cùng lớn.

Ngay cả trong việc quản trị đời sống cá nhân cũng đang cần những đổi mới sáng rốt ráo. Trong cuộc chạy đua này, ai quản trị cá nhân tốt, ai biết rõ mục tiêu, ai sử dụng được thời gian hiệu quả, người đó sẽ chiến thắng. 

Đó là những việc có thể làm ngay được, và quan trọng hơn, lợi thế của việc thực hành đổi mới sáng tạo thuộc về thế hệ thứ ba, những người trẻ tuổi.

Khi tiến hành dổi mới sáng tạo, cái giá phải trả chỉ là sự trì trệ bế tắc, ngắc ngoải lâm sàng, nhưng cái được là cả không gian phát triển mới. Vậy thì còn chần chừ gì nữa? Sao còn ngồi đó than vãn, thay vì đứng lên, cầm chiếc chìa khóa đổi mới sáng tạo này để mở ra những chân trời mới. 

Phát triển Giáo dục

Chiếc chìa khóa thứ ba, được nói đến nhiều nhất và cũng có tác động lâu dài nhất, là phát triển giáo dục. 

Nếu như triết lý của hệ thống giáo dục hiện thời là đào tạo con người công cụ, thì việc cam chịu sự áp đặt đó mà không có bất cứ hoạt động tự giáo dục nào, không có bất cứ động lực tự thân thay đổi nào, thì việc bế tắc trong đời sống là số phận được báo trước. 

Vậy những người thuộc thế hệ thứ ba này có thể làm được gì trong một môi trường giao dục nặng tính đặt này? Câu trả lời là rất nhiều, thậm chí không giới hạn. 

Sự phát triển công nghệ, đặc biệt là của giáo dục số, đã gỡ bỏ hầu hết các rào cản giáo dục mà thế hệ trước phải gánh chịu. Giờ đây, nếu muốn thì bất cứ người nào cũng có thể tham gia các khóa học trực tuyến của các đại học danh tiếng trên thế giới. Họ có thể thảo luận với các giáo sư và bạn bè toàn cầu một cách rất dễ dàng. 

Như thế, thay vì trông trờ một sự thay đổi được ban phát không biết bao giờ mới tới, những người thuộc thế hệ thứ ba này hoàn toàn có thể tự thân khai sáng, tự bù đắp những khiếm khuyết của hệ thống giáo dục hiện thời, thông qua việt tiếp cận các chương trình giáo dục trực tuyến toàn cầu.

Suy cho cùng, sự thay đổi bền vững phải là sự thay đổi do mình tạo dựng ra. Mọi sự ban phát chỉ có giới hạn và đều phải trả giá.

Vậy nên, thế hệ thứ ba không thể trông trờ vào sự thay đổi có được do ban phát. Chính họ phải tự kiến tạo sự thay đổi theo cách của riêng mình. 

Đến đây, những chìa khóa phát triển đã hiện ra trước mắt. Và chính thế hệ thứ ba này, trong đó có bạn và tôi, là người đang nắm giữ những chiếc chìa khóa của phát triển.

Vấn đề là có đủ muốn để đứng lên và mở những cánh cửa phát triển hay không mà thôi.

---
Ghi chú: Đây là bản gốc của bài đăng trên Tia sáng, số Tết 2015.