Hiển thị các bài đăng có nhãn GDMN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GDMN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2010

Giáo dục trẻ bằng đòn roi: Ba câu hỏi

(Bài đăng trên Tạp chí Tia sáng số ra ngày 5/4/2010)

Giáp Văn Dương

Ẩn chứa phía sau cuộc tranh luận có nên sử dụng đòn roi trong gia đình và nhà trường để giáo dục trẻ là sự xung đột giữa các giá trị văn hóa cũ và mới, Á và Âu. Cuộc tranh luận này diễn ra gay gắt không chỉ ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các nước châu Á. Các tranh luận thường tập trung vào việc ủng hộ hoặc phản đối mà không trả lời các câu hỏi mang tính cơ sở. Vì thế, xem xét việc có nên giáo dục trẻ bằng đòn roi hay không thông qua việc trả lời những câu hỏi này là một việc cần thiết.

1. Lấy quyền gì để đánh trẻ em?

Quyền đánh người?


Đánh người là một hành vi xấu, bị xã hội ngăn cấm bằng pháp luật. Điều này mọi người đều chấp nhận một cách hiển nhiên.

Một trong bốn nguyên tắc cơ bản trong Quy định về Quyền trẻ em của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) là không được sử dụng bạo lực đối với trẻ. UNICEF yêu cầu tất cả các quốc gia phải tuân thủ Quy định này, bất cả nguồn gốc chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, tình trạng bẩm sinh, v.v.

Nhưng ở Việt Nam, đánh trẻ em thì đôi khi lại được cổ súy để biện minh cho việc giáo dục trẻ. Vậy câu hỏi đặt ra là: Trẻ em có phải là người không? Có được đối xử bình đẳng như mọi người trong xã hội hay không?

Câu trả lời đến như một phản xạ tự nhiên: Trẻ em là người, và đương nhiên cần được đối xử công bằng, bình đẳng trong xã hội. Những người đang cầm cây roi trên tay chắc cũng sẽ trả lời như thế.

Nhưng vì sao ngọn roi vẫn vung lên, vì có thể họ nghĩ: Trẻ em là người, nhưng là người chưa là người trưởng thành. Vì thế phải vung roi để trẻ em trở thành người trưởng thành như họ.

Lập luận này quá đỗi phi lý. Vì bạo lực, dù ở bất cứ dạng nào, mức độ nào, cũng không bao giờ là cơ sở hình thành nhân cách đúng nghĩa của một con người. Khoa học đã chứng minh, phần lớn những tội phạm trong xã hội đều đã phải chịu những bạo lực trong thời niên thiếu, dưới dạng này hoặc dạng khác.

Bản thân sự vung roi của người lớn cũng là minh chứng của việc chưa trưởng thành về mặt nhân cách của họ. Rất có thể, ngay từ bé, họ cũng đã nhận được những ngọn roi như thế.

Vì thế, muốn cho trẻ trưởng thành, hãy tôn trọng trẻ trước hết. Cất cây roi đi và ngồi xuống nói chuyện cùng với trẻ.

Cần qui tắc hơn roi

Xã hội vận hành được không phải là nhờ những ngọn roi, mà nhờ những qui tắc. Nói theo ngôn ngữ của người lớn thì đó là nhờ luật pháp.

Với trẻ em, luật pháp tương đương với những bộ qui tắc ở nhà trường và gia đình. Nếu muốn trẻ em khi trưởng thành là một công dân biết tuân thủ luật pháp, thì trước hết phải đặt ra những bộ qui tắc đơn giản nhưng có tác dụng xác lập và điều chỉnh hành vi của trẻ. Đó là lý do vì sao mà ở các nước có nền giáo dục phát triển, trong nhà trường luôn có một bộ “qui tắc vàng”, dán ở mọi nơi để trẻ có thể nhìn thấy, tuân thủ và nhắc nhở nhau cùng tuân thủ.

Thay vì những khẩu hiệu chung chung, khó hiểu cho trẻ nhỏ như “Tiên học lễ, hậu học văn”, hãy soạn những bộ qui tắc cụ thể để trẻ tuân theo dễ dàng. Ví dụ như :

1. Không nói dối.

2. Muốn nói phải giơ tay.

3. Không lười biếng, không mất trật tự.

4. Không ngắt ngang khi người khác đang nói.

4. Lắng sự hướng dẫn của thầy cô và người lớn.

6. Không nói tục chửi bậy, không bắt nạt bạn bè.

7. Tôn trọng và sẵn sàng giúp đỡ người khác khi có yêu cầu.

Vì xuất hiện ở mọi nơi và được nhắc nhở thường xuyên nên trẻ hầu như thuộc lòng những qui tắc này. Nếu trẻ nào vi phạm các qui tắc này sẽ bị thầy cô và bạn bè nhắc nhở riêng, hoặc trước lớp, hoặc nói chuyện riêng với hiệu trưởng. Nhưng không bao giờ có chuyện đánh trẻ ở những nơi này.

Nếu trẻ được hướng dẫn tuân thủ những qui tắc rất thiết thực này từ bé, khi lớn lên sẽ có thói quen tuân thủ pháp luật một cách tự nhiên. Hành vi của trẻ cũng đạt đến những chuẩn mực văn minh cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, như: biết lắng nghe và trao đổi, biết tôn trọng sự riêng tư của người khác, có trách nhiệm với bản thân mình, v.v.

Vì thế, dạy trẻ tuân thủ những qui tắc cụ thể, làm nền tảng cho việc hình thành nhân cách và đạo đức của trẻ, quan trọng hơn việc vung roi để dạy trẻ với bất cứ lý do nào, nhất là khi sự vung roi thường xảy ra khi người lớn đã mất bình tĩnh.

Vì thế, trước khi vung roi, người lớn nên tự hỏi: Mình lấy quyền gì để đánh trẻ?

2. Có là công bằng, dân chủ, văn minh?

Ẩn ức ấu thơ

Ngành phân tâm học đã chứng minh, những ẩn ức và tổn thương tâm lý từ thời ấu thơ, trong đó có ẩn ức và tổn thương vì bạo lực, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hành vi của trẻ khi đã trưởng thành.

Những tổn thương này không mất đi theo thời gian, mà ẩn vào tiềm thức, trực tiếp điều chỉnh hành vi của con người một cách vô thức. Đến khi có điều kiện, hoặc không thể kìm chế, sẽ bùng phát dưới cả hai dạng vô tình hoặc có chủ ý.

Thực tế cho thấy, phần lớn trẻ hư hoặc tội phạm trong xã hội đều xuất thân từ những gia đình thích sử dụng bạo lực để dạy dỗ trẻ hoặc giải quyết mâu thuẫn, thay vì đối thoại một cách ôn hòa, bình đẳng.

Vì thế, khi những cây roi nhỏ còn vung lên ở trong nhà trường thì kết quả là những cây roi lớn hơn, đủ mọi chủng loại, cấp bậc, vung lên trong xã hội.

Xã hội khi đó trở thành bát nháo vì người dân có xu hướng sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn và đòi hỏi quyền lợi cho mình, thay vì sử dụng luật pháp.

Cũng vì thế, không ngạc nhiên khi “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà chúng ta hướng tới còn quá đỗi xa vời khi những cây roi còn vung lên trong cả gia đình lẫn nhà trường.

Công bằng, dân chủ, văn minh?

Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là mong ước, cũng là mục tiêu phấn đấu của Việt Nam. Nhưng một xã hội như thế chỉ có thể đạt được khi mọi sự bắt đầu bằng sự tôn trọng.

Muốn trẻ sau này trở thành những công dân của một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thì người lớn phải hành xử một cách công bằng, dân chủ, văn minh với trẻ trước hết.

Nhưng việc vung roi không có bất cứ đặc điểm nào của công bằng, dân chủ, văn minh.

Vung roi với trẻ - những người không có khả năng và không dám chống đỡ - là không công bằng.

Vung roi thay vì đối thoại, thảo luận, phân tích, thuyết phục... là không dân chủ.

Vung roi là đánh người, là dùng bạo lực, những đặc trưng của một xã hội kém văn minh.

Khoa học đã chứng minh, sự hình thành tính cách trong thời thơ ấu quyết định toàn bộ tính cách sau này của một con người. Như thế, một trẻ có thể trở thành người công bằng, dân chủ văn minh hay không, khi ngay từ nhỏ, đã phải nhận những ngọn roi từ người lớn, thay vì trao đổi, đối thoại, thuyết phục, phân tích và cảm thông?

Việt Nam đang phấn đấu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nhưng với việc vung roi thường xuyên như vậy liệu mục tiêu này có đạt được?

Điều kì lạ là người lớn, miệng thì hô hào xây dựng “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nhưng tay thì vung roi để cố công xây dựng một xã hội như vậy.

Xã hội chịu hậu quả

Cách giáo dục phản giáo dục như thế sẽ để lại hậu quả nặng nề cho xã hội.

Thay vì tuân qui tắc, pháp luật, người ta vung roi với nhau bằng cách này hay cách khác, để giải quyết mâu thuẫn, để bào vệ lợi ích của mình, thậm chí để giáo dục người khác.

Ngọn roi từ trong gia đình và nhà trường đã tìm cách lan ra ngoài xã hội và biến tướng thành đủ loại khác nhau.

Ngọn roi không chỉ còn đơn thuần là ngọn roi tre, roi mây giắt trên mái nhà hay thước kẻ của các thầy cô giáo, mà đã chuyển thành những ngọn roi vô hình nhưng nghiệt ngã gấp bội so với những ngọn roi tre, roi mây nói trên.

Điều này dẫn đến một văn hóa “vung roi” bất cứ khi nào có thể giữa những người lớn, kể cả những bậc trí giả và quan chức, vì một lẽ , ngay từ bé tất cả đều được tiếp thu một văn hóa “vung roi” từ trong gia đình lẫn nhà trường.Thậm chí, nhiều nhân sĩ, trí thức lớn cũng bị những ngọn roi vô hình vung lên một cách nghiệt ngã từ đủ mọi phía.

Tệ hách dịch, quan liêu, cửa quyền cũng có nguồn gốc trực tiếp từ cách giáo dục bằng roi nói trên. Khi bố mẹ, thầy cô vung roi đối với trẻ thì quan chức – trên thực tế thường tự cho mình là quan phụ mẫu thay vì đầy tớ - “vung roi” với người dân cũng là một điều bình thường. Kẻ có quyền, có tiền thì khinh khi người nghèo khó, sẵn sàng bắt nạt, “vung roi” khi cần thiết.

Đạo đức xã hội xuống cấp. Luật pháp không được tôn trọng. Mục tiêu xây dựng “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” sẽ mãi mãi chỉ là mục tiêu xa với nếu những kiểu giáo dục bằng roi vẫn còn được sử dụng phổ biến ở cả trong gia đình lẫn nhà trường.

Vì thế, đã đến lúc cần phải chấm dứt kiểu giáo dục này để cùng xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, biết đối thoại và thượng tôn pháp luật.

3. Thắp sáng hay dập tắt?

Quyền làm trẻ con

Không có ai không mắc sai phạm, kể cả những người cầm roi dạy trẻ. Với trẻ em, sự mắc những sai phạm đương nhiên phải xảy ra với tần suất nhiều hơn người lớn. Trẻ học và trưởng thành thông qua chính việc mắc phải, nhận ra và sửa chữa những sai lầm đó.

Việc của người lớn là giúp trẻ nhận ra và tìm cách sửa chữa những sai lầm chứ không phải trừng phạt trẻ. Trừng phạt không giúp hiểu cặn kẽ căn nguyên của sai phạm, mà còn đẩy trẻ vào những phản kháng cực đoan và chịu những ẩn ức, tổn thương tâm lý không đáng có.

Bản chất của trẻ là tò mò, hiếu động, thậm chí nghịch ngợm, thích khám khá. Nếu không như thế thì không còn là trẻ con nữa. Người lớn vì thế cần tôn trọng bản chất này, không nên tìm cách áp đặt trẻ theo cách nghĩ, cách làm, cách suy xét vấn đề của mình.

Sự phát triển về thể chất và trí tuệ của trẻ được tiến hành thông qua chính tò mò, hiếu động, nghịch ngợm và phạm sai lầm này. Nhiệm vụ của người lớn là tạo môi trường an toàn cho trẻ thử-và-sai trong các hoạt động học, chơi, nghịch, khám phá..., và hướng dẫn trẻ vượt qua những sai lầm nhỏ để rút ra sự hiểu biết bổ ích.

Người lớn cần tôn trọng quyền làm trẻ con của trẻ. Đừng bắt trẻ sống với những nhận thức và qui chuẩn trước tuổi của mình. Đừng bắt trẻ thành người lớn quá sớm. Đừng đánh cắp tuổi thơ của trẻ.

Hãy cho trẻ được là chính mình: trẻ con.

Thắp sáng hay dập tắt?

“Giáo dục là thắp sáng một ngọn lửa, không phải đổ đầy một bát nước”. Vì thế, phải khơi gợi những khả năng tiềm ẩn của trẻ, khơi sáng những đốm lửa trong tâm hồn trẻ.

Việc đó chỉ có thể thực hiện khi người lớn tôn trọng trẻ. Vì thế, một trong số bốn nguyên tắc cơ bản trong qui định về Quyền trẻ em của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc là: Tôn trọng quan điểm của trẻ.

Nhưng trên thực tế, những người cổ súy cho việc sử dụng đòn roi để giáo dục trẻ đã không làm được việc này. Bằng việc vung roi, họ đã trực tiếp dập tắt, chứ không thắp sáng những ngọn lửa.

Bằng việc nhồi nhét kiến thức và những quan niệm, qui chuẩn của mình, họ cố công đổ đầy một bát nước, chứ không phải là giáo dục trẻ.

Chính cách giáo dục này đã tạo ra nhiều thế hệ thụ động, chỉ thích được cầm tay chỉ việc, kể cả với những người đã tốt nghiệp đại học. Điều này trực tiếp làm giảm chất lượng nguồn nhân lực, yếu tố quan trọng nhất trong công cuộc phát triển đất nước.

Cách giáo dục bằng sự áp đặt, cả bằng đòn roi và sự nhồi nhét kiến thức, quan niệm của người lớn đã hủy diệt tính tò mò, thích sáng tạo thiên bẩm của con người, dẫn đến tình trạng tôn vinh người học giỏi thay vì người sáng tạo. Thậm chí, nhiều trí thức được cho là lớn, cũng chỉ thích học lại và rao giảng lại kiến thức của người khác thay vì tìm cách tạo ra tri thức mới.

Thói độc đoán, quan liêu, thiếu dân chủ, cửa quyền chủ mà chúng ta phê phán hàng ngày cũng có nguồn gốc từ lối giáo dục áp đặt và trừng phạt này mà ra. Bệnh thành tích, thích chạy theo các chỉ tiêu, con số một cách duy ý chí cũng có nguyên nhân sâu xa từ văn hóa áp đặt, thiếu dân chủ, thiếu trao đổi mà mỗi người nhận được từ khi còn thơ ấu, cả trong gia đình lẫn nhà trường.

Vun mầm sáng tạo

Sáng tạo là phẩm chất quan trọng nhất để thành công hiện nay. Điều này không chỉ đúng với một cá nhân, mà còn đúng với cả một đất nước.

Giáo dục vì thế phải vun những mầm sáng tạo đối với trẻ thơ, thay vì áp đặt và những quan điểm, cách nghĩ, cách làm của mình.

Trừng phạt bằng đòn roi thay vì trao đổi, thảo luận là cách nhanh nhất để giết chết những mầm sáng tạo này. Việc làm này không chỉ trái với pháp luật mà còn gây tổn hại đến phẩm chất sáng tạo của nhiều thế hệ, vì thế cần phải loại bỏ.

Mở rộng ra cả xã hội, sự áp đặt, trừng phạt dưới bất cứ hình thức nào, bằng đòn roi vô hình hay hữu hình, với bất cứ đối tượng nào, một người lao động chân tay hay một trí thức lớn, cũng đều gây ra những hậu quả tương tự.

Vì thế, thay vì reo rắc thói quen áp đặt và trừng phạt, đặc biệt là trừng phạt bằng đòn roi, ngay từ thời thơ ấu, hãy xây dựng một nếp giáo dục mới: dân chủ, bình đẳng, đối thoại và thấu hiểu.

Văn hóa áp đặt và trừng phạt phải được thay bằng văn hóa dân chủ. Việc làm này phải được tiến hành trước hết ở trong gia đình và nhà trường.

Chỉ có như thế, những mầm sáng tạo mới được vun đắp. Mọi cá nhân mới có khả năng phát triển tối đa năng lực của mình, làm cho cuộc sống của họ tự chủ và có ý nghĩa hơn, và đóng góp được nhiều hơn với công cuộc phát triển đất nước.

Thay lời kết

Trước khi vung roi để dạy trẻ, và trước khi thảo luận việc có nên dùng roi vọt để giáo dục trẻ hay không, mỗi người lớn hãy tự trả lời ba câu hỏi nêu trên trước hết. Nếu không, việc giáo dục trẻ cũng như việc ủng hộ hoặc phản đối một cách thức giáo dục nào đó sẽ rơi vào vòng quay của quán tính văn hóa. Điều này có thể dẫn đến những việc làm phản giáo dục, thậm chí phạm pháp và đi ngược lại những giá trị tiến bộ mà xã hội đang cố công xây dựng.




Giao Duc Tre Bang Don Roi

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2009

Khung chương trình GDMN Singapore (hết)

Thực hành 5: Lựa chọn tài nguyên học tập

Lựa chọn và thiết kế dụng cụ học tập

Tài nguyên học tập tốt nhất thường:

Dễ dàng và sẵn có

Sử dụng hằng ngày và phổ biến

Không giới hạn, cho phép trẻ sáng tạo ở mức tối đa có thể

Khuyến khích

Nhiều chủng loại khác nhau

Liên quan đến trẻ, và có khả năng duy trì sự thích thú của trẻ

Do đó, sẽ tốt nếu để giấy trắng và dụng cụ viết như bút chì, bút sáp, phấn, màu cho trẻ thể hiện bản thân một cách tự do và độc lập

Sự bày biện dụng cụ học tập cũng là một cách làm cho việc học đến được với mọi trẻ.

Công nghệ (máy tính, ti vi, máy ảnh số, v.v) đóng một vai trò đáng kể trong mọi mặt của đời sống của Singapore ngày nay. Trong khi công nghệ có thể hữu ích cho trẻ khi sử dụng chúng, công nghệ chỉ đóng vai trò bổ trợ chứ không phải thay thế các hoạt động có giá trị cao, có khả năng kích thích sự hợp tác trong khi học, chơi và sáng tạo trong những năm tuổi thơ. Người lớn cần phải quyết định xem một công nghệ nào đó có phù hợp với lứa tuổi, và có phù hợp với chương trình học của trẻ hay không.

Điều quan trọng cần nhớ là đồ dụng học tập không điều khiển sự dạy dỗ.

Đồ dùng học tập trợ giúp việc học

Vở bài tập và vở hoạt động không phải là mục đích của sự dạy dỗ, mà chỉ để củng cố những gì đã được dạy.

Thực hành 6: Quan sát trẻ

Quan sát và theo dõi sự phát triển của trẻ

Cách duy nhất để dạy trẻ là hiểu trẻ. Chỉ bằng cách hiểu trẻ, chúng ta mới có phản ứng thích hợp đối với trẻ.

Quan sát và lưu giữ sự phát triển của trẻ có ý nghĩa sống còn cho việc thiết kế và đánh giá chương trình. Người lớn cần dùng những quan sát và lưu trữ này một cách thường xuyên để xem xét xem có đáp ứng được nhu cầu của trẻ hay không.

Quan sát sự tiến bộ của trẻ có thể được lưu giữ trong các hồ sơ bao gồm, ví dụ, các bức vẽ, bức tranh, phác hoạ, viết, nét vẽ và bản in từ các bài tập trên máy tính. Tạo và lưu giữ hồ sơ bằng cách này cũng là bằng chứng để chỉ cho phụ huynh biết sự tiến bộ của trẻ.

Mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa phụ huynh và giáo viên sẽ tạo ra những hiểu biết giá trị về sự phát triển của mỗi trẻ.

Khi giáo viên và phụ huynh chia sẻ và vui mừng vì sự thành công và sự thích thú của trẻ,

trẻ sẽ cảm thấy mình có giá trị và

phát triển sự tự tin

Giáo viên có thể dùng sự quan sát – cả ở nhà và ở trường – để xác định các ưu tiên và kế hoạch học tập liên quan cho mỗi trẻ. Phụ huynh và giáo viên cũng có thể so sánh sự quan sát của mình với kỳ vọng ở trẻ.

Bằng cách này, chúng ta có thể giúp trẻ nhận ra toàn bộ khả năng của mình, truyền cảm hứng cho trẻ hoàn thành việc học và học tập suốt đời.

HỢP TÁC GIA ĐÌNH – NHÀ TRƯỜNG

Sự tham gia của gia đình

Mỗi trẻ đều là một thực thể trong xã hội. Khi trẻ nhận thấy bố mẹ và thầy cô giáo chia sẻ kể về sự tiến bộ của mình, và lên kế hoạch cho bước phát triển tiếp theo, trẻ sẽ nhận thấy mình có giá trị trong con mắt của gia đình và cộng đồng. Điều này khuyến khích trẻ trong quá trình học và thúc đẩy trẻ biến ước mơ và hoài bão của mình thành hiện thực.

Gia đình, khi được thông báo thường xuyên về sự phát triển của trẻ ở trường, và tham gia đóng góp vào sự phát triển của trẻ, thường sẽ có trẻ hạnh phúc và mãn nguyện hơn.

Gia đình có sức ảnh huởng to lớn nhất đến cuộc sống của trẻ.

Các giá trị như sự trung thực, sự tôn trọng, sự chịu trách nhiệm cho hành động của mình đều được truyền từ bố mẹ - khuôn mẫu đầu tiên của trẻ

Việc đạt được các giá trị này sẽ đảm bảo trẻ lớn lên sẽ trở thành những công dân tốt và hữu ích cho xã hội. Bố mẹ có thể giúp trẻ bằng cách dành thời gian để làm việc và vui chơi cùng trẻ, nói với trẻ về cuộc sống hằng ngày, về mọi thứ xung quanh, về lịch sử gia đình, các sự kiện hiện thời, sở thích và các chủ đề trẻ học ở trường.

Vì vai trò quan trọng của phụ huynh, nhà trường cần phải hướng tới mục tiêu trở thành nơi mà gia đình luôn cảm thấy được đón chào và được nhìn nhận tiềm năng và thế mạnh trong vai trò đối tác với nhà trường để giúp trẻ phát triển toàn diện. Trường học phải tạo ra cơ chế thông tin thường xuyên với gia đình và đưa gia đình tham gia vào việc học của trẻ, thông qua thư từ, đối thoại và họp phụ huynh.

“Cần cả một làng để nuôi dạy một đứa trẻ”

Ngạn ngữ châu Phi

LỜI KẾT

GDMG đóng vai trò quyết định trong việc đưa trẻ vào hành trình học tập suốt đời. Do đó, việc ghi nhớ mục tiêu của GDMG có ý nghĩa sống còn.

Chuẩn bị cho trẻ bước vào việc học đồng nghĩa với việc đảm bảo cho trẻ là:

Những người học tràn đầy niềm vui: trẻ cần tìm thấy niềm vui khi làm việc một cách tự nhiên

Những người học đầy tính tò mò: trẻ đặt câu hỏi thường xuyên và bột phát để tìm hiểu thế giới trẻ sống

Những người học thanh lịch: trẻ sẽ tìm kiếm sự học và chia sẻ với người khác một cách khiêm nhường.

LIÊN HỆ

Pre-School Education Unit

Ministry of Education

51 Grange Road

Block 1 Level 4

Singapore 249564

Tel: 6838 7321 Fax: 6836 2102

Family Development Division

Ministry of Community Development and Sports

#10-00 MCDS Building

512 Thomson Road

Singapore 298136

Tel: 6354 8236 Fax: 6354 8236

Child Development Unit

KK Women’s and Children’s Hospital

Podium 1 Children’s Tower

100 Bukit Timah Road

Singapore 229899

Tel: 6394 1971

National Library Board

Public Library Services

#07-01 Centennial Tower

3 Temasek Avenue

Singapore 039190

Tel.: 6332 3133 Fax: 6332 1781

Child Guidance Clinic

#03-01 Health Promotion Board Building

3 Second Hospital Avenue

Singapore 168937

Tel: 6435 3878

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn đến các cá nhân sau cho việc đóng góp và đưa ra lời khuyên cho các phần khác nhau của khung chương trình:

MS GEVA BLENKIN

RESEARCH FELLOW

PROFESSIONAL AND COMMUNITY EDUCATION

GOLDSMITH COLLEGE

UNIVERSITY OF LONDON

NATIONAL INSTITUTE OF EDUCATION

NANYANG TECHNOLOGICAL UNIVERSITY

Chúng tôi cũng cảm ơn các bé, các thầy cô giáo và phụ huynh đã đóng góp cho cuốn sách này, đặc biệt là:

BUKIT MERAH NTUC CHILD CARE CENTRE

BUKIT PANJANG PCF EDUCATION CENTRE (BLOCK 422)

BUKIT TIMAH PCF EDUCATION CENTRE (BLOCK 12)

MOULMEIN PCF EDUCATION CENTRE (BLOCK 105)

PASIR RIS EAST PCF EDUCATION CENTRE (BLOCK 119)

SOKA KINDERGARTEN

TAMPINES CHANGKAT PCF EDUCATION CENTRE (BLOCK 106)

TAMPINES CHANGKAT PCF EDUCATION CENTRE (BLOCK 318)

TAMPINES EAST PCF EDUCATION CENTRE (BLOCK 261)

TAMPINES EAST PCF EDUCATION CENTRE (BLOCK 358)

THE ASCENSION KINDERGARTEN

ULU PANDAN NTUC CHILD CARE CENTRE


Thứ Năm, 7 tháng 5, 2009

Khung chương trình GDMN Singapore (P7)

Thực hành 3: Chuẩn bị môi trừờng học tập

Sự sắp xếp đồ vật trong phòng có thể ảnh hưởng đến các hoạt động diễn ra ở đó. Việc này có thể khuyến khích sự khám phá và mày mò thực nghiệm, hoặc cản trở sự sáng tạo và hạn chế trí tưởng tượng.

Do đó, sự sắp xếp trong lớp học có thể có ảnh hưởng to lớn đến việc dạy và học. Sự bày biện trong phòng sẽ ảnh hưởng đến dạng học tập diễn ra trong đó. Ví dụ: việc xếp bàn và ghế ở trong lớp, trong đó giáo viên ngồi phía trước lớp có thể dẫn đến các hoạt động kiểu giáo viên hướng dẫn, trẻ làm theo mà ở đó, trẻ hoàn toàn thụ động chờ nghe chỉ dẫn.

Tuy nhiên, sự sắp xếp cho phép giáo viên di chuyển tự do và thuận lợi cho các tương tác tích cực sẽ khuyến khích học tập chủ động

Trẻ cần nhiều cơ hội và khích lệ để thử nghiệm các ý tưởng một cách tự do và độc lập, trong thời gian và địa điểm của riêng mình. Điều này có thể tiến hành ở các điểm học tập đặt xung quanh phòng. Các hoạt động tại các điểm này cần được thiết kế sao cho khuyến khích sự khám phá, hợp tác và ra quyết định. Quá trình học tập chủ đông và học tập mang tính xã hội nên được coi là trọng tâm của kế hoạch, chứ không phải là sản phẩm cuối cùng.

Các điểm học tập

Gợi ý các điểm học tập:

Diễn kịch

Thế giới thu nhỏ

Thủ công và nghệ thuật

Ngôn ngữ

Trò chơi với nước

Trò chơi với cát

Khám phá

Thư viện

Đồ chơi trên bàn

Máy tính

Con số và phép toán

Trưng bày thành quả của trẻ

Rất nhiều hoạt động học tập diễn ra trong lớp một cách ngẫu nhiên. Ví dụ: một vài kĩ năng đọc phát triển khi trẻ đọc lại các câu chuyện trẻ tự sáng tác. Trẻ cũng học cách tự hào về thành quả của mình và nhận ra chúng có giá trị nếu nhìn thấy chúng được trưng bày.

Với suy nghĩ này, chúng ta mong muốn thành quả của trẻ cần được trưng bày một cách sáng tạo ở quanh lớp học và ở nhà trong một khoảng thời gian nhất định.

Thực hành 4: Chuẩn bị và sắp xếp các hoạt động học tập

Lên kế hoạch hoạt động

Người lớn cần phải biết rõ ràng về mục đích và cách thức của các hoạt động mà sự tham gia của trẻ có thể duy trì được.

Nếu kết quả mong đợi của hoạt động là không rõ ràng, việc học có thể sẽ không tối ưu. Do đó, chúng tôi khuyến nghị các bạn xác định một hoặc hai múc tiêu thay vì ôm đồm quá nhiều thứ cùng một lúc.

Người lớn cũng cần phải hiểu rằngmọi phương diện

học tập và phát triển của trẻ

dù là cá nhân, xã hội, tình cảm, thể chất hay trí tuệ

cũng đều liên quan và phụ thuộc lẫn nhau

và điều này cần phải được phản ánh trong mọi thiết kế học tập

Do đó các hoạt động cần phải tạo ra các trải nghiệm phong phú và có tính khích lệ. Việc học xảy ra khi người lớn:

Lên kế hoạch cho các hoạt động thích hợp, giàu tính tưởng tượng, khích lệ, vui thích và có tính thách thức

Sử dụng hiệu quả các cơ hội học tập ngẫu nhiên đến từ các sự việc và thói quen hàng ngày để dạy trẻ kĩ năng và kiến thức

Hướng dẫn trẻ hiểu được mục đích của hoạt động

Sử dụng ngôn ngữ phong phú, rõ ràng, đúng ngữ pháp. Rất quan trọng khi nhận thấy rằng việc người lớn nói gì và nói như thế nào sẽ là một trong những cách đưa từ mới cho trẻ và giúp trẻ phát triển kĩ năng ngôn ngữ để tư duy.

Tương tác và giúp đỡ trẻ theo cách sẽ tạo ra thái độ tích cực đối với việc học của trẻ

Để hoạt động được hiệu quả trong quá trình học, người lớn cần nhớ và hiểu:

Cách thức trẻ học

Sở thích, nhu cầu và khả năng của trẻ

Bản chất của quá trình dạy và học

Kỳ vọng về kết quả thu được

Nhận biết mức độ tiếp theo của việc học và lên kế hoạch giúp cho trẻ tiến bộ








Các hoạt động được lên kế hoạch sao cho khuyến khích trẻ:

Học lẫn nhau

Học thông qua vận động và qua mọi giác quan

Có thời gian để khám phá ý tưởng và sở thích ở mức sâu

Cảm thấy an toàn, điều này giúp trẻ trở nên tự tin khi học

Học bằng nhiều cách với nhiều tốc độ khác nhau

Biết liên hệ trong quá trình học

Sáng tạo và tham gia trò chơi giả tưởng để giúp phát triển khả năng ngôn ngữ


Những vấn đề phát triển trẻ 5 tuổi của Vương quốc Anh (hết)

Phụ lục 2: Phát triển trẻ giai đoạn mẫu giáo: Bảng đánh giá

Phát triển Cá nhân, Tình cảm và Xã hội

Điểm

Thái độ và tính cách

Phát triển xã hội

Phát triển tình cảm

1

Thể hiện sự thích thú trong các hoạt động của lớp học thông qua quan sát và tham dự

Vui chơi hòa hợp cùng bạn bè

Không bám bố mẹ hoặc người trông nom khi được giúp đỡ

2

Mặc, cởi quần áo, làm vệ sinh cá nhân có sự trợ giúp của người lớn

Xây dựng quan hệ thông qua cử chỉ và lời nói

Nói năng thoải mái về gia đình và cộng đồng

3

Nhiệt tình tham gia các hoạt đọng tự chọn

Tham gia khi đến lượt và biết chia sẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn

Diến tả nhu cầu và cảm xúc ở bằng các cách phù hợp

4

Biết tự mặc và cởi quần áo, biết tự vệ sinh cá nhân

Làm việc như một phần của nhóm hoặc của lớp, biết tham gia khi đến lượt, biết chia sẻ một cách công bằng

Biết cách phản ứng với các trải nghiệm khác nhau, thể hiện nhiều loại cảm xúc khác nhau khi thích hợp

5

Tự chọn và sử dụng đò chơi, hoạt động một cách độc lập

Có quan hệ tốt với người lớn và người trông nom

Ngày càng nhận biết được nhu cầu, quan điểm và cảm xúc của mình và nhạy cảm và nhu cầu, quan điểm và cảm xúc của người khác

6

Thể hiện sự thích thú, hàng hứng và tích cực tham gia việc học

hiểu được rằng cần phải có các qui tắc cư xử và giá trị chung mà mọi nguời đồng ý tuân thủ, bao gồm cả người lớn và trẻ em, để làm việc một cách hòa hợp

Biết tôn trọng văn hóa, đức tin tôn giáo của mình cũng như của người khác

7

Tự tin tham gia các hoạt động mới, bắt đầu biết đưa ra ý tưởng và nói trước đám đông thân thiết

Hiểu rằng mỗi người có nhu cầu, quan điểm, văn hóa và đức tin khác nhau và cần phải tôn trọng những điều đó

Biết suy xét hậu quả của lời nói và hành động của mình cuãng như của người khác

8

Duy trì sự chú ý và tập trung

Hiểu rằng mình có quyền đòi hỏi người khác phải tôn trọng nhu cầu, quan điểm, văn hóa và niềm tin tôn giáo của mình

Hiểu được cái gì là đúng, cái gì là sai, và tại sao lại như thế

9

Duy trì sự tham gia, không bỏ cuộc, đặc biệt khi cố gắng giải quyết một vấn đề nào đó hoặc tìm câu trả lời đúng

Lắng nghe và tính đến ý tưởng của người khác

Thể hiện một cá tính mạnh và tích cực, có khả năng biểu lộ nhiểu dạng cảm xúc một cách tự nhiên và thich hợp

Giao tiếp, Ngôn ngữ và Kĩ năng đọc-viết’

Điểm

Ngôn ngữ cho giao tiếp và suy nghĩ

Kết hợp âm và chữ cái

Kĩ năng đọc

Kĩ năng viết

1

Nghe và có phản ứng

Thích thú tham gia đọc, hát, ngâm nga những bài thơ, bài hát có vần

Phát triển sự hứng thú đối với sách

Thực hành việc tạo ra các dấu, hình vẽ; thỉnh thoảng diễn tả ý nghĩa của các dấu, hình vẽ đó

2

Biết khởi đầu giao tiếp với người khác, thể hiện sự tự tin trong các tình huống giao tiếp thân mật

Nhận biết được âm điệu và vần

Biết rằng chữ viết, văn bản có mang theo ý nghĩa

Sử dụng vài ký tự có thể nhận biết được để diễn tả ý nghĩa

3

Nói trôi chảy, biết phản xạ, biết điều chỉnh hành động

Biết kết nối âm với chữ

Nhận biết được một số từ đơn giản

Viết được chính xác một vài âm vựng

4

Lắng nghe thích thú câu chuyện, bài hát, bài thơ, có khả năng duy trì sự chú ý, biết phản ứng với những câu hỏi, lời bình luận thích hợp

Biết kết hợp âm với chữ cái, gọi tên và phát âm các chữ trong bảng chữ cái

Biết rằng, trong tiếng Anh, chữ được đọc từ trái sang phải, trên xuống dưới

Viết được tên mình và những từ trong trí nhớ

5

Sử dụng ngôn ngữ để tưởng tượng và tạo ra nhân vật, tình huống

Nghe và nói được các âm trong từ

Hiểu được các thành tố của câu chuyện, như nhân vật chính, diễn biễn của các sự kiện và tình huống

Cầm và sử dụng được bút chì để viết được một số chữ cái có thể nhận dạng được, phần lớn các chữ cái viết ra phải đúng

6

biết tương tác với bạn bè, người khác trong nhiều bối cảnh khác nhau, biết trao đổi về kế hoạch, hoạt đọng chung, biết tham gia khi đến lựợt

Biết kết hợp các âm trong từ

Biết đọc một số từ đơn giản và quan thuộc, đọc được một số câu đơn giản một cách độc lập

Cố gắng viết cho các mục đích khác nhau, sử dụng đặc trưng các dạng cấu trúc khác nhau

7

Sử dụng lời nói để tổ chức, xếp đặt và làm rõ suy nghĩ, ý tưởng, tình cảm; tìm hiểu ý nghĩa và âm của các từ mới

Sử dụng kiến thức ngữ âm để đọc những từ đơn giản

Kể lại được câu chuyện theo đúng trình tự, có chú ý đến dạng cách ngôn ngữ sử dụng trong câu chuyện

Sử dụng kiến thức ngữ âm để viết một số từ đơn giản và cố gắng viết những từ phức tạp hơn

8

Nói rõ ràng, mạch lạc, tự tin và có kiểm soát, ý thức được phản ứng của người nghe

Cố gắng đọc các từ phức tạp bằng việc sử dụng kiến thức ngữ âm

Thể hiện sự hiểu biết làm thế nào để có thể tìm thông tin trả lời cho các câu hỏi ở đâu, ai, tại sao, như thế nào

Bắt đầu biết sử dụng chú thích, các câu đơn giản, thỉnh thoảng biết dùng dấu câu

9

Nghe và nói một các tự tin, có kiểm soát; luôn nhận thức được sự có mặt của người nghe bằng cách đưa thêm những chi tiết liên quan

Sử dụng ngôn ngữ để đưa ra và làm rõ ý tưởng, biết kiểm soát một lượng từ vựng thích hợp

Sử dụng kiến thức về chữ cái, âmvà từ khi đọc hoặc viết một các độc lập

Đọc được các sách tự chọn với độ lưu loát và chính xác nhất định

Trao đổi ý nghĩa thông qua các cụm từ và câu đơn giản, thỉnh thoảng biết đánh dấu câu

Giải quyết vấn đề, Lập luận và Toán

Điểm

Số đếm và số để ghi nhãn

Tính toán

Hình dạng, khoảng cách và đo đạc

1

Nói được tên của một vài số trong các bối cảnh đơn giản, ví dụ trong các bài hát trẻ con

Biết phản ứng với các từ liên quan đến phép cộng và trừ trong các bài hát trẻ con và trò chơi

Thực hành với một số đồ vật, vật dụng và thể hiện chút ít nhật biết về mặt toán học

2

Đếm chính xác đến 3 các đồ vật quen thuộc hằng ngày

Nhận biết được sự khác biệt về số lượng khi so sánh hai nhóm đồ vật

Phân loại và liên hệ đồ vật và nói về việc liên hệ đó

3

Đếm chính xác đến 6 các đồ vật quen thuộc hằng ngày

Biết tìm số vật nhiều hơn 1 hoặc kém 1 trong nhóm có 5 đồ vật

Mô tả hình dạng bằng các mô hình, hình, mẫu đơn giản

4

Đếm được các số theo thứ tự

Biết liên hệ phép cộng với việc kết hợp hai nhóm

Nói về, nhạn biết được các hình mẫu đơn giản

5

Nhận biết các chữ số từ 1 đến 9

Biết liên hệ phép trừ với việc lấy bớt đi

Sử dụng các từ hàng ngày để mô tả vị trí

6

Đếm chính xác đến 10 vật dụng quen thuộc hằng ngày

Trong các hoạt động và trao đổi, bắt đầu biết sử dụng các từ liên quan đến phép cộng và trừ

Sử dụng các từ như ‘hình tròn’ hoặc ‘to hơn’ để mô tả hình dạnh, kích thước của vật

7

Sắp xếp các số theo thứ tự đến 10

Biết tìm số nhiều hơn hay ít hơn 1 đơn vị so với các số từ 1 đến 10

Sử dụng các từ như ‘to hơn’, ‘bé hơn’, nặng hơn’, nhẹ hơn’ để so sánh đồ vật

8

Biết sử dụng các ý tưởng và phương pháp toán học để giả quyết các bài toán thực tế

Biết sử dụng các ý tưởng và phương pháp toán học để giả quyết các bài toán thực tế

Biết sử dụng các ý tưởng và phương pháp toán học để giả quyết các bài toán thực tế

9

Nhận biết, đếm, sắp xếp, viết, sử dụng được các số đến 20

Sử dụng các phương pháp khác nhau để cộng và trừ, bao gồm việc tính nhẩm

Sửu dụng ngôn ngữ toán học thể mô tả vật 3 chiều và hình dạng 2 chiều

Kiến thức và Hiểu biết về Thế giới tự nhiên, Phát triển thể chất, Phát triển sáng tạo

Điểm

Kiến thức và Hiểu biết về Thế giới tự nhiên

Phát triển thể chất

Phát triển sáng tạo

1

Thể hiện sự tò mò và thích thú khi khám phá thế giới xung quanh

Di chuyển tự nhiên, thể hiện sự kiểm soát và điều phối

Khám phá các phương tiện khác nhau, phản ứng với các trải nghiệm của giác quan,

Tham gia trò đóng giả, diễn kịch

2

Quan sát, lựa chọn, thao tác trên các đò vật và chất liệu, nhận biết được những đặc điểm, sự kiện cá nhân của mình

Di chuyển tự tin bằng nhiều cách, thể hiện nhận thức về không gian

Tạo ra các biểu tượng đơn giản cho người, vật, sự kiện; tham gia trò đặt lời/giai điệu cho bài hát

3

Nhận biết được sự khác nhau và giống nhau khi quan sát và khám phá, xây dựng (đồ chơi) có mục đích, sử dụng các dụng cụ và kĩ thuật đơn giản

Thường xuyên thể hiện sự kiểm soát thích hợp trong các di chuyển ngắn và dài

Thu thập trải nghiệm thông qua các phương tiện khác nhau

4

Biết khám phá địa điểm, sự vật, chất liệu, sinh vật sống bằng tất cả các giác quan thích hợp

Di chuyển tự tin, biết giả định và an toàn; biết đi vòng quanh, đi qua gầm, leo qua, đi xuyên quan dụng cụ thang bằng và dụng cụ leo trèo

Hát bài hát đơn giản theo trí nhớ

5

Hỏi những câu hỏi tại sao, như thế nào, biết xem xét sự giống nhau và khác nhâu, sự thay đổi, các khuôn mẫu

Thể hiện sự kiểm soát tinh tế về di chuyển và điều phối

Khám phá màu sắc, cáu trúc, hình dạnh trong không gian 2 và 3 chiều

6

Biết tìm ra các sự kiện trong quá khứ và hiện tại của bản thân mình, của các thành vien trong gia đình và của người quen biết; bắt đầu biết được văn hóa và đức tin ton giáo của mình và của người khác

Biết sử dụng các đò vật lớn và nhỏ khác nhau, thể hiện một số kĩ năng căn bản

Nhận biết được bằng cách nào âm thanh có thể bị thay đổi, nhận biết được các âm lặp đi lặp lại và các mẫu âm, biết di chuyển theo nhạc

7

Tỉm ra và nhận biết các công nghệ sử dụng hằng ngày, biết sử dụng CNTT&TT, đồ chơi có lập trình để trợ giúp việc học

Sử dụng dụng cụ, đồ vật, vật liêu dễ uốn,xây dựng (đồ chơi) một cách an toàn, biết kiểm soát ở mức cơ bản

Sử dụng trí tưởng tượng trong thiết kế, nghệ thuật, âm nhạc, nhảy múa, diễn kịch, kể chuyện;

Phản ứng bằng nhiều cách đối với những thứ nghe, nhìn, sờ, ngửi, cảm nhận được

8

Biết xây dựng nhiều loài đồ vật (đồ chơi) sử dụng tài nguyên, dụng cụ, kĩ năng thích hợp, biết điều chỉnh khi cần thiết

Nhận biết tầm quan trọng của việc giữ gìn thân thể khỏe mạnh và những yếu tố tạo ra một thân thể khỏe mạnh; nhận biết sự thay đổi của cơ thể mình khi vận động

Biết diễn tả và trao đổi ý tưởng, suy nghĩ và cảm xúc; biết sử dụng các loại chất liệu và dụng cụ khác nhau, biết tưởng tượng và đóng kịch, biết di chuyển theo nhạc,thiết kế nhạc cụ đơn giản, tạo ra bài hát

9

Biết troa đổi các kế hoạch đơn giản để khám phá và xây dựng, biết đánh giá sơ lược kết quả đạt được;

Nhận biết và gọi tên các đắc trưng và tính chất chính, thỉnh thoảng biết liên hệ với các quan sát, sự kiện hoắc kinh nghiệm khác nhau;

Bắt đầu khám phá ý nghĩa của việc tham gia nhiều nhóm và cộng đồng khác nhau

Lặp lại, liên hệ và điều chỉnh các động tác, thỉnh thoảng nhận xét về kết quả của mình;

Thể hiện sự kiểm soát và điều phối trong các di chuyển ngắn và dài, biết sử dụng một số dụng cụ khác nhau

Diễn tả cảm xúc, ý thich trong tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc, kịch nghệ và biết tạo ra một vài so sánh, liên tưởng;

Phản ứng với tác phẩm của mình và người khác khi khám phá và trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý thích trong nghệ thuật, âm nhạc, múa hát, diễn kịch, chơi trò giả tưởng