Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2020

Khai mạc Trường hè Khoa học Việt Nam lần thứ 8

Ngày hôm nay, 28/11/2020, Trường Khoa học Việt Nam 2020 - VSS'08 đã chính thức khai mạc tại Trung tâm quốc tế Khoa học và giáo dục liên ngành ICISE với chủ đề "Vượt lên biến động".

Hy vọng rằng các bạn học viên sẽ có một khoảng thời gian học tập bổ ích với tinh thần nhiệt huyết nhất từ những điều các anh/chị giảng viên chia sẻ trong các buổi học.




---
Nguồn: Trường Khoa học Việt Nam 2020 - VSS'08

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Tiếng vọng thuở hồng hoang

Giáp Văn Dương

Ngày 17/3/2014, Trung tâm Vật lý thiên văn Harvard-Smithsonian đã công bố kết quả nghiên cứu của trạm thiên văn BICEP2 tại Nam Cực về việc tìm ra của sóng hấp dẫn nguyên thủy, phát sinh trong giai đoạn lạm phát của vũ trụ. Ngay lập tức, tin này gây chấn động trong giới khoa học, đặc biệt là giới Vật lý và Thiên văn học. 

Nếu đúng thì đây là lần đầu tiên, sóng hấp dẫn, tiên đoán chưa được kiểm chứng cuối cùng của thuyết tương đối rộng, được xác nhận. Cũng lần đầu tiên, con người biết được diễn tiến của vũ trụ từ thuở sơ khai, ngay sau vụ nổ lớn khoảng một phần tỷ tỷ tỷ tỷ giây. Vì thế, đây được coi là một trong những khám phá khoa học vĩ đại nhất của con người, tương tự như việc phát hiện ra năng lượng tối hoặc tìm ra hạt boson Higgs.

Nhưng đó là chuyện của giới khoa học. Còn chúng ta, liệu có chút liên hệ gì trong những sự kiện thế này?

Kỷ niệm ấu thơ


Cũng như các ngành khoa học chuyên sâu khác, nói về thiên văn học là một chuyện khó. Vì ngay cả với các đại học ở Việt Nam, thiên văn học vẫn còn là một ngành xa lạ, và đôi khi bị nhầm lẫn với chiêm tinh học, một môn huyền học phổ biến của cả hai bờ Đông Tây.

Nhưng không vì thế mà thiên văn học xa lạ với chúng ta. Nếu nhớ lại hẳn bạn sẽ thấy khi còn thơ bé, mỗi khi trăng sáng, bạn thường vừa đi vừa ngước mắt nhìn mặt trăng và sau đó thích thú nhận ra mặt trăng đang đi theo mình. Bạn đi đâu, trăng đi theo đấy. Với bạn, khám phá ấy thật là kỳ diệu. Bạn hớn hở thông báo cho anh em bè bạn về “sự kiện” lớn lao này. 

Đó có lẽ là quan sát thiên văn đầu tiên của riêng bạn. Bạn đã biết ngước mắt lên để quan sát bầu trời và tìm thấy niềm vui thú từ đó. Biết bao thế hệ trẻ em đã say mê với quan sát thiên văn đầu tiên này. Và biết bao niềm vui thuần khiết đã đến từ sự khám phá nghiệp dư này.

Nói là quan sát thiên văn vì ở đây, đối tượng quan sát của bạn là mặt trăng, tức là một thiên thể. Bạn đã tìm cách quan sát xem mặt trăng đang ở đâu. Nên nhớ rằng, tìm xem các thiên thể ở đâu đã, và vẫn sẽ, là một trong những công việc quan trọng nhất của thiên văn học. 

Dụng cụ quan sát của bạn là đôi mắt thường. Và kết quả quan sát được báo cáo ngắn gọn rằng mặt trăng đi theo bạn. Diễn dịch theo ngôn ngữ khoa học thì là mặt trăng chuyển động xung quanh bạn. Điều này có nghĩa, bạn, bạn là trung tâm!

Òa! Thật quá tuyệt vời! Lần đầu tiên bạn không chỉ có một khám phá thú vị, mà còn thấy mình có một vị trí thật là quan trọng. 

Với mặt trời, bạn không thể nhìn lâu vì quá chói, để biết xem mặt trời có đi theo bạn hay không. Nhưng có một điều bạn biết chắc chắn, mặt trời mọc ở đằng Đông và lặn ở đằng Tây. Và để việc đó xảy ra thì mỗi ngày, mặt trời đều phải đi từ Đông sang Tây qua đỉnh bầu trời một cách đều đặn.

Nhưng còn đêm tối? Khi đêm tối buông xuống, bạn được giải thích rằng, mặt trời đi ngủ giống như bạn vậy. Sáng mai mặt trời sẽ thức dậy, bạn sẽ có ánh sáng. Sự xuất hiện, và biến mất, của mặt trăng, mặt trời và các vì sao, được giải thích đơn giản là thức dậy và đi ngủ, y như con người vậy.

Những quan sát ban đầu này làm cho bạn cảm thấy mình thật quan trọng. Mình, và trái đất nơi mình sống, dường như ở trung tâm của vũ trụ. Mặt trăng, mặt trời và các vì sao, đều xoay chuyển xung quanh trung tâm này.

Niềm tin tôn giáo, và sự tự hào về cái tôi của con người, càng củng cố thêm cho nhận định này.

Sau này, khi lớn lên, bạn được học rằng, không phải mặt trời mặt trăng đi theo mình, cũng không phải vì mặt trời đi ngủ nên sinh ra đêm tối. Sở dĩ có màn đêm là vì trái đất tự quay xung quanh trục của mình mỗi 24 giờ một vòng. Sáng khi chúng ta quay về phía mặt trời, còn tối khi chúng ta ở phía khác, không được ánh sáng của mặt trời soi rọi. Ngoài ra, chính trái đất quay xung quanh mặt trời chứ không phải là ngược lại.

Đây là một điều hiển nhiên với học sinh phổ thông. Nhưng phải mất hàng chục, hay hàng trăm, nghìn năm con người mới phát hiện ra. Nếu so với lịch sử hình thành của con người hiện đại từ khoảng 200 nghìn năm về trước, thì thời điểm để chúng ta biết được điều này quả thật chỉ là phần thừa ra của con số lẻ. 

Việc mặt trời chuyển động quanh trái đất được coi như một điều hiển nhiên không cần bàn cãi. Vì ai ai cũng thấy vậy bằng mắt thường, hằng ngày. Chỉ đến khoảng 500 năm trước, con người mới lần đầu nhận ra sự thực không phải như vậy. Chính trái đất mới là cái chuyển động xung quanh mặt trời. Đây là bước tiến dài đầu tiên của ngành thiên văn học.

Tuy nhiên, những người tiên phong trong nhận thức mới mẻ này đã phải trả giá. Bruno đã phải lên dàn hỏa thiêu vì cổ vũ cho nhận thức mới này. Galileo, người ủng hộ thuyết nhật tâm sau khi đã hướng ống kính thiên văn lên bầu trời, đã phải kiểm điểm và công khai rút lui ý kiến trước Tòa án giáo hội. Nhưng niềm tin khoa học của ông không hề lung lay. Dù sao trái đất vẫn quay - Eppur si muove – câu nói nổi tiếng của ông đã trở thành điển hình về sức sống không gì có thể dập tắt được của chân lý khoa học.

Sau Galileo là Kepler với ba định luật thiên văn khẳng định chính trái đất và các hành tinh khác quay xung quanh mặt trời, với quỹ đạo elip thay vì hình tròn. Đặc biệt sau đó là Newton với thuyết vạn vật hấp dẫn, với những tính toán và tiên đoán chính xác về chuyển động của các thiên thể, thời điểm nhật thực, nguyệt thực, hay sự lên xuống của thủy triều. 

Trí tuệ con người bước sang một giai đoạn mới trong việc khám phá bầu trời: mạnh mẽ, chắc chắn và tham vọng. 

Tò mò vô vụ lợi


Con người là một sinh vật tò mò. Văn chương sẽ cho rằng tò mò là nguồn cơn của nhiều niềm hỉ nộ. Biết bao nàng công chúa vì tò mò mở căn phòng bí mật nên phải mất đầu. Cũng biết bao người vì tò mò mà chịu nhiều đau khổ. Nên lời cảnh báo đừng có tò mò đã trở thành cửa miệng.

Nhưng khoa học thì ngược lại. Khoa học cho rằng chính tò mò là nguồn gốc của hiểu biết, là cội rễ của tri thức. Chính vì tò mò, con người ngước mắt lên để nhìn bầu trời và có được những khám phá thú vị, những niềm vui thuần khiết của thuở ấu thơ. Cũng chính vì tò mò mà con người đặt ra những câu hỏi chẳng liên quan gì đến cuộc sống của mình, như ngoài mặt trời này ra thì liệu có còn mặt trời nào khác nữa, liệu có ai sống ở trên đó nữa không, vũ trụ này rộng lớn bao nhiêu, vũ trụ được tạo bởi cái gì, và như thế nào?

Vì tò mò mà đặt ra những câu hỏi. Có thể chẳng ích gì cho cuộc sống thường ngày, và cũng chẳng thể nào trả lời ngay được. Nhưng may mắn thay, một khi chúng được đặt ra, thì chúng sẽ cứ ám ảnh mãi. Nếu thế hệ này không trả lời được, thì thế hệ sau sẽ tìm cách trả lời. Đó chính là sự kết nối của một hành trình khám phá tự nhiên dài dằng dặc của con người.

Chính việc tìm cách trả lời những câu hỏi dạng này đã làm nảy sinh ra ngành triết học và khoa học. Rất nhiều nghìn năm đã trôi qua, hành trình tìm ra câu hỏi này đến nay vẫn chưa còn chấm dứt. Như mới năm ngoái đây thôi, việc trả lời một phần của câu hỏi “mọi thứ tạo bởi cái gì?” đã đưa đến việc tìm ra hạt boson Higgs, mà nhờ nó vạn vật có được khối lượng và hình hài như ta vẫn thấy.

Tương tự thế, thế giới này được sinh ra như thế nào cũng là một câu hỏi lớn, bí ẩn và hấp dẫn không kém. Đông Tây kim cổ đã tốn nhiều công sức, đưa ra hàng trăm lý thuyết khác nhau. Nếu ở Việt Nam thì chỉ cần ra dạo qua các quán xá vỉa hè một vòng thôi, nhiều khả năng bạn sẽ nghe thấy những từ Thái cực, Lưỡng nghi, Âm dương, Tứ tượng, Ngũ hành, Đạo… Tức những trụ cột của một lý thuyết về sự ra đời và vận hành của vũ trụ học phương Đông, nay đã thẩm thấu vào muôn mặt của đời sống. Còn nếu dự các seminar khoa học ở trong trường đại học, bạn sẽ nghe thấy những từ như Big Bang (Vụ nổ lớn), lạm phát, vũ trụ giãn nở, vận tốc ánh sáng, không thời gian, hấp dẫn, lượng tử… Chúng chính là những khái niệm trụ cột của lý thuyết về sự hình thành vũ trụ của khoa học hiện đại. 

Về mặt nguyên tắc, tất cả các lý thuyết này đều bình đẳng với nhau. Nhưng chỉ lý thuyết nào được kiểm chứng, tức có thể đo đạc quan sát được bằng thực nghiệm, mới được thừa nhận. Chính vì thế, thực nghiệm là tiêu chuẩn của mọi lý thuyết khoa học. Chỉ cần có một ví dụ phản chứng thôi, lý thuyết khoa học đã bị loại bỏ.

Vũ trụ giãn nở


Ngay từ đầu bài chúng ta đã biết vì trái đất quay nên có đêm tối. Nhưng chúng ta cũng đã biết, ngoài mặt trời ra thì còn có vô vàn các mặt trời khác nữa. Chúng có ở khắp mọi nơi. Chúng cung cấp ánh sáng. Vậy nếu vũ trụ là vô hạn thì tại sao bầu trời đêm không sáng rực lên? Tại sao vẫn có đêm tối để chúng ta trú ngụ? Sự kiện đêm tối hiện hữu đã đẩy chúng ta vào thế bí trong suốt mấy trăm năm. Chúng là ta phải phưu lưu đến những chân trời xa nhất để tìm câu trả lời khả dĩ. 

Người đầu tiên nhận ra nghịch lý này là Digges khoảng năm trăm năm về trước (1573), và sau đó được Olbers nêu lại và được biết đến như là nghịch lý Olbers (1826). Và phải đến gần bốn trăm năm sau, khoa học mới làm sáng tỏ được một phần của câu trả lời. Người có công đầu trong việc này không ai khác chính là Einstein với công trình về thuyết tương đối rộng. Nhờ thuyết tương đối mà lý thuyết về một vũ trụ giãn nở được hình thành. Thay vì tĩnh tại vĩnh cửu, vũ trụ thực sự đang giãn nở. Điều này đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm nhờ các quan sát của Hubble 90 năm về trước. Việc tìm ra sự dịch chuyển màu sắc về phía đỏ cuả ánh sáng phát ra từ các ngôi sao xa tít đã giúp Hubble đi đến kết luận rằng: Vũ trụ đang giãn nở. Vũ trụ đang mở rộng. Nếu vũ trụ như một quả bóng, thì rõ ràng quả bóng đang được thổi phình ra.

Dùng sự dịch chuyển về phía đỏ, tức bước sóng của ánh sáng dài hơn, cũng không là điều xa lạ với chúng ta. Điều này cũng tương tự như ta lắng tai nghe tiếng còi xe lửa, khi xe chạy xa ta thì tiếng của nó càng trầm, vì sóng âm thanh khi này có bước sóng dài hơn, còn khi xe chạy về phía ta thì tiếng còi chói hơn, vì sóng âm trong trường hợp này có bước sóng ngắn hơn. Đo đạc sự thay đổi của bước sóng, cũng chính là sự thay đổi của màu sắc đối với ánh sáng, sẽ cho ta biết vật đang chạy lại gần hay chạy ra xa ta.

Cũng nhờ thuyết tương đối của Enstein mà nhận thức của ta về vũ trụ thay đổi hoàn toàn. Giờ đây, không gian và thời gian không tách rời nhau và không còn là cứng nhắc, tuyệt đối. Chúng có thể co giãn tùy theo tốc độ chuyển động của vật thể. Chũng cũng không còn phẳng phiu trơn lì nữa. Sự cong của không gian là do vật chất gây ra. Sự cong này chính là bản chất của lực hấp dẫn. Các vật không hút nhau như trong thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton, mà chỉ đơn giải chuyển động trong không gian cong theo đường ngắn nhất. Và hẳn nhiên, trong một không thời gian có khả năng co giãn uốn dẻo như thế, sự cong đi này sẽ được lan truyền dưới dạng sóng, như sóng nước trên mặt hồ. Đó chính là sóng hấp dẫn, tiên đoán cuối cùng của thuyết tương đối rộng cho đến ngay tuần trước, vẫn chưa được kiểm chứng là tồn tại.

Nhưng có gì quan trọng từ việc vũ trụ giãn nở? Hẳn nhiên, ta có thể ngoại suy ngay lập tức rằng, trước khi giãn nở, ắt hẳn nó phải bắt đầu từ một điểm rất nhỏ. Tức là vũ trụ ban đầu phải có một kích thước vô cùng nhỏ. Và ta nhớ lại một trong những kết luận của thuyết tương đối rằng, năng lượng và khối lượng hoàn toàn hoán chuyển được cho nhau, thì ở cái trạng thái ban đầu đó, chỉ có năng lượng thuần khiết ở một nhiệt độ cực cao là tồn tại được. Lý do: vì kích thước của vũ trụ quá nhỏ, mật độ năng lượng sẽ cực lớn, nên không vật chất nào giữ được hình hài ở điều kiện như vậy. Tất cả đều tan chảy thành năng lượng, dưới dạng bức xạ thuần khiết. Chỉ sau đó, khi giãn nở, vũ trụ mới nguội dần và vật chất như ta thấy mới dần hình thành.

Đây chính là ý tưởng của Gamow (1948), người tiên phong trong việc xây dựng một lý thuyết về sự hình thành của vũ trụ giãn nở, mà sau này được gọi là thuyết Big Bang, tức vụ nổ lớn.

Theo giả thiết này thì mọi thứ mà ta thấy, các vì sao, mặt trăng mặt trời, trái đất, bản thân chúng ta… đều được sinh ra từ vụ nổ lớn. Theo tính toán lý thuyết, vụ nổ này cũng để lại một bức xạ nền, đồng nhất và đẳng hướng ở khắp mọi nơi trong vũ trụ.

Nhưng có gì để kiêm chứng điều này? Nhớ lại rằng, thuyết Big Bang khi ra đời đã gặp nhiều phản đối. Ngay cả cái tên Big Bang cũng được đặt ra như một lời chế giễu. Nên chẳng có ai quan tâm đến tiên đoán về sự tồn tại của bức xạ nền để mà tìm kiếm. Phải mất gần hai chục năm sau, hai nhà khoa học của Bell Labs là Penzias và Wilson (1964) đã tình cờ phát hiện ra bức xạ nền, khi tìm cách đo bức xạ nhiệt của tầng khí quyển. Phát hiện này thực sự gây chấn động trong giới khoa học đương thời, và đã mang lại cho hai ông giải Nobel Vật năm 1978. 

Nhờ việc đo nhiệt độ của bức xạ nền vào khoảng 2,727K (tức -270,424oC), mà người ta tính được tuổi của vũ trụ. Giống như đo nhiệt độ của một cốc nước nóng, ta sẽ ước lượng được cốc nước đã để nguội được bao lâu. Tuổi của vũ trụ, vì thế tính ra được vào khoảng 13,8 tỷ năm.

Nhưng vì sao bức xạ nền này lại đồng nhất và đẳng hướng ở khắp mọi nơi? Điều này giống như vì sao mọi cốc nước nóng lại có cùng một nhiệt độ? Câu trả lời hợp lý nhất là vì trước đó, chúng được rót ra tức thời từ cùng một ấm nước sôi trong một thời gian cực ngắn. Đó chính là ý tưởng chủ đạo của giả thiết về vũ trụ lạm phát, do Alan Guth đưa ra vào năm 1980. Theo đó, ngay sau vụ nổ lớn khoảng một phần tỷ tỷ tỷ tỷ giây (10-36 giây) đến đâu đó khoảng một phần triệu tỷ tỷ tỷ giây (~10-33-10-32 giây), từ trạng thái cân bằng nhiệt, vũ trụ đã giãn nở với vận tốc cực lớn, lớn hơn cả vận tốc ánh sáng. Chính sự giãn nở cực nhanh này, gọi là giãn nở lạm phát, đã làm cho nhiệt độ của các cốc nước ở mọi nơi đều như nhau, tức bức xạ nền là đồng nhất và đẳng hướng.

Như vậy, về cơ bản, bức tranh về sự hình thành của vũ trụ theo thuyết Big Bang đã tương đối rõ ràng, ít nhất là từ khoảng thời gian ~10-36 giây sau vụ nổ lớn. Tuy nhiên, trước đó thì vẫn còn là bí ẩn. Mọi khám phá sâu xa hơn sẽ không thể thực hiện bằng thực nghiệm vì thời kỳ lạm phát đã xóa hết mọi dấu vết có thể đo đạc được. 

Tuy nhiên, câu hỏi về khoảng thời gian trước vũ trụ lạm phát, thậm trí cả trước Big Bang, vẫn lảng vảng trong đầu chúng ta. Nhiều nhà khoa học thì cho rằng, trước Big Bang sẽ không là gì cả. Tức là, mọi thứ được sinh ra từ hư vô. Big Bang được sinh ra từ hư vô. Tất cả đều sinh ra từ hư vô. Nghe thật kỳ lạ và huyền hoặc!

Chúng ta còn chưa rõ hư vô ở đây là hư vô thực sự, tức chân không tuyệt đối, hay là hư vô trong tưởng tượng và nhận thức của chúng ta. 

Ngày nay, thuyết Big Bang đã chiếm địa vị chủ đạo trong khoa học, vì các tiên đoán của nó rất phù hợp với thực nghiệm. 
Lược sử tiến hóa của vũ trụ từ Big Bang đến ngày nay - Ảnh: cam.ac.uk

Tiếng vọng nguyên thủy


Giai đoạn lạm phát của vũ trụ, nếu đúng là thực sự xảy ra, ngoài việc làm cho bức xạ nền là đồng nhất và đẳng hướng, thì còn khuếch đại sóng hấp dẫn. Sóng hấp dẫn này sẽ tương tác đến bức xạ nền, dẫn đến một sự sắp xếp theo định hướng của phân cực bức xạ nền. Nếu tìm được cấu trúc này, tức di chỉ của tương tác giữa sóng hấp dẫn và bức xạ nền, thì giả thiết về vũ trụ lạm phát được kiểm chứng. 

Vì thế, truy tìm và hiển thị cấu trúc của phân cực bức xạ nền là một ưu tiên của thiên văn học trong những năm gần đây. Nó sẽ giúp chúng ta hiểu được xem vũ trụ đã được hình thành như thế nào, đặc biệt ở khoảnh khắc đầu tiên ngay sau vụ nổ lớn. Nhưng việc này không dễ chút nào, khi cường độ của nó lại nhỏ hơn bức xạ nền đến hàng tỉ lần. 

Nhưng không vì thế mà các nhà khoa học khoanh tay đứng nhìn. Tất nhiên là không. Họ đã mang máy móc thiết bị lên núi, vào không gian, hay xuống Nam Cực, nơi có khí hậu khô,lạnh và bầu khí quyển ổn định, để đo đạc và tìm kiếm cấu trúc của sự phân cực này. Và một trong những cố gắng đó đã cho kết quả. Đó là trạm thiên văn BICEP2 (Background Imaging of Cosmic Extragalactic Polarization) ở Nam Cực, sau 3 năm thu thập và phân tích số liệu, đã cho ra kết quả rằng, cấu trúc B-mode của phân cực bức xạ nền đã được tìm ra. Điều này nếu được xác nhận là đúng bởi các nghiên cứu tương tự, thì vũ trụ lạm phát là có thực, và sóng hấp dẫn sinh ra trong thời kỳ lạm phát của vũ trụ đã tương tác với bức xạ nền và để lại dấu ấn là cấu trúc B-mode, hiển thị hình ảnh dưới dạng vặn xoắn trong sự định hướng phân cực của bức xạ nền.

Kết quả của BICEP2 có độ tin tưởng lên đến 5 sigma, tức là nếu không có sóng hấp dẫn, thì xác suất thu được một kết quả tương tự từ nhiễu nền chỉ là 1 trong 10 triệu.

Sóng hấp dẫn nguyên thủy từ lâu đã được coi là bằng chứng không thể chối cãi của vũ trụ lạm phát. Và cũng chỉ trong thời kỳ lạm phát này thì sóng hấp dẫn mới được khuếch đại đủ lớn để có thể đo đạc được. Vì thế, nếu được xác nhận là đúng, thì đây là kết quả đột phá của ngành thiên văn học. Nó cũng là bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về hấp dẫn lượng tử. Nó còn gợi ý rằng, vũ trụ mà chúng ta quan sát được chỉ là một miếng bọt nhỏ xuất hiện trong vô vàn vũ trụ khác mà chúng ta chưa nhận thức được.

Kết quả này đã làm bao người xúc động, vì đây là tiếng vọng từ thuở hồng hoang, mà ít ai trong chúng ta dám nghĩ là còn có thể nghe được sau 13,8 tỷ năm. Tuy nhiên, với những kết quả lớn như vậy, cẩn trọng không bao giờ thừa. Kết quả này chỉ có thể được khẳng định chắc chắn sau khi được kiểm chứng chéo bởi các đo đạc của vệ tinh Planck thuộc Cơ quan hàng không vũ trụ châu Âu (European Space Agency’s Planck), dự kiến sẽ công bố vào cuối năm nay. 

Nếu có gì phiền phức chút đỉnh sau sự kiện này, thì có lẽ đó là ủy ban xét giải Nobel lại thêm một lần nữa phải đau đầu trong việc quyết định nên trao giải Nobel cho ai, khi có hơn ba người đóng góp quyết định cho sự ra đời và kiểm chứng về lý thuyết về vũ trụ lạm phát. 

Dù gì đi nữa thì cả một chân trời hiểu biết mới đã được mở ra. Trí tuệ con người đã tiến thêm một bước lớn. 

Sóng hấp dẫn tương tác với bức xạ nền vũ trụ, để lại cấu trúc vặn xoắn trong định hướng phân cực của bức xạ nền theo cấu trúc B-mode. Ảnh: caltech.edu

BOX:


“Kết quả này là bằng chứng không thể chối cãi về vũ trụ lạm phát vì các lý thuyết khác không tiên đoán như vậy. Đây là điều tôi đã chờ đợi 30 năm nay”, Andrei Linde, giáo sư vật lý tại Đại học Stanford, một trong những người tiên phong của thuyết vũ trụ lạm phát nói.

Michael Turne, giáo sư Vật lý lý thuyết ở Đại học Chicago đánh giá: “Nếu kết quả của BICEP2 được xác nhận, thì đây là thành tích thực sự lớn – quan trọng như việc phát hiện ra năng lượng tối, bức xạ nền vũ trụ hay hạt boson Higgs”.

Max Tegmark , nhà vật lý lý tuyết tại MIT: “Đây là thời điểm hạnh phúc của tất cả mọi người trong ngành. Chúng tôi đã chờ đợi nó 30 năm. Nếu đúng, đây sẽ là một trong những thành tự quan trọng nhất của khoa học”. “Kết quả này sẽ dẫn đến ít nhất một giải Nobel”.

Clem Pryke, một trong hai lãnh đạo của nhóm BICEP2 nói: “Nếu coi việc tìm ra sóng hấp dẫn nguyên thủy như tìm kim đáy bể, thì trên thực tế, chúng tôi tìm ra cả chiếc xà beng!”

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Đấu thầu đề tài khoa học...

Giáp Văn Dương 

(TBKTSG) - LTS: Câu chuyện về tham nhũng trong nghiên cứu khoa học bỗng chốc trở thành thời sự, khi có người làm đơn xin thôi chủ nhiệm đề tài vì bị “gợi ý” lại quả đến 50-60%. Dù sao những người trong giới hay ngoài giới đều hiểu việc tham nhũng trong nghiên cứu khoa học lâu nay không có gì lạ nữa; vấn đề là tìm ra giải pháp khả thi. TBKTSG giới thiệu ý kiến của một nhà khoa học về một giải pháp trong vấn đề này và sẵn sàng đăng tải những kiến giải khác. 

Vụ việc tham nhũng trong khoa học không mới, nhưng đây có vẻ là lần đầu tiên người trong cuộc thẳng thừng nói về điều này trên báo giới, nên nó là dịp tốt để người ta nói lại một điều nhức nhối đã tích tụ từ rất lâu trước đó. Nhưng nói ra hay không, có phải là điều quan trọng nhất? Chắc hẳn là không. Khi con voi đã chình ình ra đó, thì cái quan trọng hơn là vì sao lại có con voi nằm đó, trong căn phòng khoa học, mà không ai làm gì được? 

Đấu thầu hay “khấu đầu”? 

Nếu nhìn lại những động thái quản lý khoa học gần đây thì thấy rằng, các nhà quản lý cũng ý thức được sự tồn tại của “con voi” này. Cho nên, họ cũng có những cải tiến nhất định trong việc phân bổ đề tài. Điển hình nhất là chuyển từ việc xét duyệt nặng tính xin - cho sang đấu thầu đề tài. Nhưng y như chuyện mèo lại hoàn mèo, xin-cho vẫn hoàn xin-cho, thậm chí còn biến tướng để thành xin-chia, làm cho mọi việc còn có vẻ tệ hơn trước. 

Trong hình thức xin-cho, một di sản của thời quan liêu bao cấp, thì nhà khoa học muốn có việc để làm, phải đi xin. Mà đã xin thì phải lụy. Nói nôm na là phải “khấu đầu”. Trước ai? Tất nhiên là trước người cho, thường là nhà quản lý có quyền phân phối đề tài, hoặc các “cai đầu dài” trong khoa học. 

Bằng cách “khấu đầu” này, nhà khoa học đã đánh mất chính mình, vậy liệu họ có giữ được khoa học? Rất khó. 

Trong hình thức xin-chia thì câu chuyện trở nên thô lậu và phũ phàng hơn rất nhiều. Vậy nên mới có những xì xầm về chuyện chạy đề tài, chạy dự án. Việc xét duyệt dự án khoa học nhiều khi chỉ còn là sự mặc cả. Con số quan trọng nhất bây giờ không phải là số liệu khoa học, mà số phần trăm các chủ đề tài sẵn sàng “lại quả” cho ai đó, chỉ chủ đề tài mới biết. 

Và ngay cả xin-chia cũng vẫn phải “khấu đầu”. 

Đấu thầu có khá hơn? 

Giờ chuyển sang hình thức được kỳ vọng là tiến bộ hơn. Đó là đấu thầu, cụ thể là đấu thầu đề tài nghiên cứu khoa học. 

Việc này không có gì mới, thực tế đã triển khai được mấy năm nay. Cũng mở thầu, cũng xét duyệt. Và tất nhiên cũng có chạy thầu, chỉ định thầu như các vụ đấu thầu lùm xùm trong các lĩnh vực khác. Đến đây, câu hỏi đặt ra là, liệu vấn đề đấu thầu đề tài này, được kỳ vọng như một lối thoát, có bất hợp lý về bản chất, hay kết quả kém như đã thấy chỉ là do người thực hiện sai? 

Về bản chất, khi nào thì người ta mở thầu? Tất nhiên là khi nhà chủ cần một sản phẩm/dịch vụ nào đó và muốn có loại tốt nhất, rẻ nhất. Anh ta phải biết rõ chủng loại và chất lượng của loại sản phẩm và dịch vụ mà mình muốn, với các tiêu chí được lượng hóa rõ ràng. Những người tham gia đấu thầu cũng phải có sẵn sản phẩm hoặc dịch vụ đó, hoặc chứng minh qua hồ sơ đấu thầu là có thể cung cấp được 100% nếu trúng thầu. Trong trường hợp không cung cấp được, hoặc cung cấp sản phẩm/dịch vụ không đạt chất lượng theo các tiêu chí đã thống nhất, thì đương nhiên phải bồi thường theo các điều khoản của hợp đồng. 

Nhưng với việc đấu thầu đề tài khoa học thì khác hẳn. Vì nghiên cứu khoa học là tìm kiếm những cái mới, giải quyết những vấn đề mới. Vậy nên, với việc đấu thầu đề tài khoa học, “nhà chủ” làm sao có thể hình dung được rõ ràng sản phẩm mà anh ta cần có những tính chất gì để chọn hồ sơ thầu phù hợp; còn người tham gia đấu thầu cũng chưa nói được gì rõ ràng về sản phẩm mà mình sẽ cung ứng. Anh ta thậm chí còn không dám khẳng định mình có được sản phẩm đó hay không, tức là cuộc nghiên cứu có thành công hay không, và giả sử nghiên cứu thất bại thì có phải bồi thường cho nhà chủ như các cuộc đấu thầu thông thường khác hay không? 

Việc đấu thầu đề tài còn có cái bất hợp lý khác là để làm được việc này, thì “nhà chủ”, tức các nhà quản lý, phải có đề tài trước. Nhưng họ phần lớn chỉ là chuyên viên hành chính, hoặc nhà khoa học đã chuyển sang làm quản lý, chứ không phải là nhà khoa học đang làm nghiên cứu ở tuyến đầu của lĩnh vực chuyên ngành. Trong cuộc cạnh tranh truy tầm tri thức toàn cầu, những đề tài do các chuyên viên hành chính hoặc nhà quản lý nghĩ ra làm sao có thể cập nhật và cạnh tranh được với sự phát triển thời sự của khoa học?

Nếu nói rằng nhà chủ sẽ kêu gọi các ý tưởng nghiên cứu từ giới khoa học, rồi chọn ra một số món được cho là hay nhất và mang ra đấu thầu. Như vậy là trọn vẹn cả đôi đường chứ gì? 

Xin thưa là không. Cách làm này lại dẫn đến một bất hợp lý khác, đó là trong khoa học, ý tưởng là quan trọng nhất. Thành hay bại cũng từ ý tưởng mà ra. Nên sẽ không có chuyện đưa ra những ý tưởng hay nhất để công bố cho toàn dân thiên hạ biết. 

Giả sử ý tưởng của anh được đưa ra, nhưng việc thực hiện thì có thể lại giao cho người khác thông qua đấu thầu, có gì đảm bảo là ý tưởng đó không bị người khác ăn cắp một cách hợp pháp, rồi lập một hồ sơ khoa học cấp tốc và dùng nhiều quan hệ khác để thắng thầu? 

Như vậy, việc đấu thầu đề tài nghiên cứu rõ ràng là bất hợp lý từ trong bản chất. Nó không giải quyết được gì ngoài việc khoác thêm một cái áo mới cho một quy trình xin-cho/xin-chia cũ, đồng thời còn tiếp tay cho sự cướp đoạt ý tưởng khoa học một cách hợp pháp. Các nhà khoa học chân chính hoàn toàn yếu thế trong quy trình này. 

Nếu không đảm bảo được lương cho nhà khoa học, thì không có cách nào để chống tham nhũng trong khoa học. 

Minh bạch 

Vậy ở những quốc gia phát triển về nghiên cứu, họ đã làm thế nào? Câu trả lời là họ không xin-cho, cũng không xin-chia, mà phân bổ dựa trên sự minh bạch. 

Hàng năm, các quỹ nghiên cứu, chương trình khoa học, kêu gọi các nhà khoa học nộp đề cương nghiên cứu để họ xét duyệt tài trợ. Bên cạnh phần giới thiệu về kiến thức nền tảng của lĩnh vực nghiên cứu, tính thời sự của đề tài, vai trò của đề tài đối với ngành, hình dung kết quả đạt được, khả năng ứng dụng nếu thành công... như một thủ tục bắt buộc, thì chủ nhiệm đề tài còn phải có đề xuất kinh phí, nhân lực và khung thời gian thực hiện. Chủ nhiệm đề tài phải chứng minh rằng đề tài do mình đề xuất là xuất sắc, khả thi, đáng để đầu tư; và nhóm của mình có khả năng thực hiện được. 

Nhưng làm sao để biết là đề tài xuất sắc, đáng để đầu tư? Không còn cách nào khác là phải đi hỏi các chuyên gia giỏi nhất. Vì thế, nhà chủ mới thành lập một hội đồng phản biệt độc lập, gồm các chuyên gia giỏi nhất trong lĩnh vực đó, tất nhiên là cả trong và ngoài nước, để phản biện đề cương nghiên cứu. Căn cứ trên kết quả phản biện, họ sẽ cân nhắc việc cấp kinh phí tài trợ. 

Còn làm sao có thể tin rằng anh có thể thực hiện được đề tài? Cái này khó hơn chút ít vì đánh giá hơi nặng tính chủ quan. Nhưng nhìn vào lý lịch chuyên môn, lịch sử nghiên cứu, uy tín học thuật của chủ nhiệm đề tài, danh mục những người tham gia đề tài, và cuối cùng là cơ sở vật chất dùng để triển khai đề tài, thì có thể sơ bộ đánh giá năng lực thực hiện của cả nhóm. Nếu anh đã từng làm rất tốt trong quá khứ, anh có nhân lực tốt, có cơ sở vật chất mạnh hỗ trợ, thì độ khả tín của anh sẽ cao hơn. 

Trên cơ sở hai đánh giá này, “nhà chủ” sẽ quyết định có tài trợ cho đề tài nghiên cứu của anh hay không. Tất nhiên, tiền này chỉ để nghiên cứu, anh không được tơ hào một xu nào trong đó cả. 

Từ đây trở đi là một sự phiêu lưu và nỗ lực của cả hai bên. Thành bại không phải là chuyện quan trọng nhất, vì khoa học là khám phá những miền đất mới nên không ai dám chắc là sẽ thành công, mà cố gắng hết sức trong khả năng của mình. 

Chính vì thế, thay vì bắt đền tiền khi thất bại, “nhà chủ” sẽ tổ chức kiểm tra tiến độ thường xuyên để hai bên cùng điều chỉnh, hoặc dừng đề tài, nếu cần thiết. Cộng với sự minh bạch tài chính, việc triển khai sẽ diễn ra đúng quy trình mà không cần phải băn khoăn về chuyện tham nhũng trong khoa học. 

Chuyện đại để là thế, nghe ra thì cũng đơn giản. Nhưng điều này chỉ có thể thực hiện khi lương của nhà khoa học đủ sống, tức là nhà khoa học không phải ăn bớt ăn xén vào đề tài nghiên cứu để nuôi sống bản thân mình. Nếu không đảm bảo được lương cho nhà khoa học, thì không có cách nào để chống tham nhũng trong khoa học cả. 

Nhưng làm sao cho nhà khoa học có lương đủ sống? Đấy mới là con voi to nhà quản lý cần phải dắt ra khỏi căn phòng. 
----- 


Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Nobel ngoại truyện

Giáp Văn Dương

Ngày 10/12/2013, tức ngày giỗ của Alfred Nobel, tại Stockholm (Thụy Điển) và Oslo (Na Uy), giải Nobel năm 2013 sẽ được trao cho các chủ nhân của nó. Ngoài một buổi tiệc long trọng theo phong cách hoàng gia với sự có mặt của Đức Vua và Hoàng hậu Thụy Điển, khoảng 1,5 triệu đô-la tưởng thưởng cho chủ nhân của mỗi giải, thì cái mà người ta trông đợi là các bài diễn văn của những tinh hoa trí tuệ này. Với người theo dõi truyền thông, thì đây còn là dịp để báo chí, truyền hình đưa tin về một sự kiện có ý nghĩa khác so với những tin tức về chiến tranh, mua sắm, ăn chơi… vốn dĩ luôn ngập tràn trên mặt báo và ti vi.

Đây là một sự kiện lớn của giới khoa học và truyền thông, trong nhiều trường hợp còn cả giới chính trị nữa. Xung quanh nó luôn có những câu chuyện thú vị để tìm hiểu. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta cùng điểm lại một số tình tiết thú vị xung quanh hai giải Hòa bình và Vật lý năm nay. 


Lớn hay nhỏ?


Theo thông lệ, năm giải về Vật lý, Hóa học, Y Sinh, Văn học và Kinh tế sẽ được trao tại Phòng hòa nhạc Stockholm. Riêng giải Hòa bình sẽ được trao tại Tòa thị chính Oslo. Cuộc trao giải tại Oslo được tiến hành bởi chủ tịch hội đồng Nobel Na Uy, trước sự có mặt của nhà vua. 

Đến đây bạn có thể hỏi vì sao giải Nobel Hòa bình lại được trao ở Oslo thay vì Stockholm? Câu trả lời là vì Alfred Nobel muốn vậy. Nhưng tại sao lại như vậy? Không ai biết!

Vào thời điểm Alfred Nobel lập di chúc này, Na Uy vẫn còn là một bộ phận lệ thuộc của Thụy Điển, và do đó không có quân đội mạnh. Có lẽ đó là lý do vì sao Nobel chọn Na Uy làm nơi trao giải Hòa bình.

Ngay cả tên giải Hòa bình cũng không được Nobel đặt ra trước. Trong di chúc, ông viết: giải thưởng sẽ trao cho “người nào đã cống hiến nhiều nhất, hoặc tốt nhất, cho tình hữu nghị giữa các quốc gia, cho sự tiêu hủy hoặc giảm thiểu các quân đội trực chiến và cho việc bảo hộ và xiển dương các hiệp thương hòa bình”. 

Như vậy là Nobel cũng không chỉ đích danh Hòa bình là một hạng mục của giải thưởng, giống như như Vật lý, Hóa học, Y sinh, Văn Học…Việc chọn tên giải là Hòa bình hoàn toàn do Ủy ban Nobel quyết định.

Nhiều người cho rằng, có thể tình bạn của ông với Bertha von Suttner, một nhà văn nữ người Áo, cũng là một nhà đấu tranh vì hòa bình theo lối bất bạo động, đã ảnh hưởng lớn quyết định của Nobel trong việc đặt ra giải thưởng này. Chính Bertha von Suttner sau đó cũng được trao giải Nobel Hòa bình những hai lần. 

Nhưng một số học giả về Nobel lại cho rằng, ông đặt ra giải thưởng này như một cách chuộc lỗi cho việc phát minh ra chất nổ dynamite và ballistite, được dùng nhiều ngay trong khi Noebel còn sống, thậm chí được dùng cả trong các cuộc chiến nữa.

Vì sự kém rõ ràng về tên gọi ngay từ khi lập di chúc, và đặc biệt là vì gắn liền với chính trị, nên giải Nobel thường gây ra nhiều tranh cãi trái chiều. Đôi khi sặc mùi chính trị, như giải thưởng năm 2009 trao cho Obama khi ông mới đắc cử tổng thống Mỹ mà chưa có đóng góp gì, hoặc giải thưởng năm nay trao cho Tổ chức Cấm vũ khí hóa học. 

Nếu theo dõi thời sự, hẳn bạn còn nhớ, vào khoảng cuối tháng 8/2013, Quân đội Syria đã bị tố cáo sử dụng vũ khí hóa học để tấn công phe đối lập làm hơn 1400 người thiệt mạng. Trước đó một năm, chính Obama đã có bài phát biểu nêu rõ “giới hạn đỏ” về vũ khí hóa học của Syria. 

Vì thế, khi sự việc xảy ra, vấn đề vũ khí hóa học trở thành chủ đề nóng của thời sự thế giới. Tổng thống Mỹ Obama đã xem xét kế hoạch tấn công Syria vào ngày 29/9. Nhưng ông chần chừ, và ngày 31/8/2013, Obama đã thận trọng xin phép Quốc hội phê duyệt cuộc tấn công này, dù ông không cần phải làm thế. Có lẽ vì ông hình dung được hậu quả của cuộc chiến quá lớn, và ông cũng không muốn phải một mình gánh chịu hết hậu quả này, khi bản thân cũng là một người được nhận giải Nobel Hòa bình, năm 2009.

Ngày 4/9/2013, Obama được Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ thông qua nghị quyết sử dụng vũ lực chống Syria. Cả thế giới nín thở nhưng sôi xình xịch, vì một cuộc chiến mới đã quá gần. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, không ai biết hậu quả của cuộc chiến ở vùng Trung Đông này sẽ lớn đến mức nào. 

Ngày 5/9/2013, hội nghị thượng đỉnh G20 khai mạc ở St Petersburg. Lãnh đạo các nước vẫn bất đồng trong việc sử dụng vũ lực để tấn công Syria, như thường lệ. Nhưng khi hội nghị sắp bế mạc, Putin đã tiến đến chỗ Obama và thì thầm vài câu to nhỏ. Một động thái bất bình thường vì hai vị tổng thống này không có kế hoạch gặp nhau trong lịch trình. Sau đó, hai ông đã kéo nhau ra một góc phòng nói chuyện riêng chừng 20 phút. 

Mục đích của Obama tại hội nghị này là tìm kiếm đồng kinh quốc tế trong cuộc tấn công Syria. Không ai biết hết hai ông đã thì thầm những chuyện gì, nhưng báo chí cho biết: Putin đã hỏi Obama điều gì sẽ xảy ra nếu Syria đòng ý giao nộp vũ khí hóa học?

Obama khá hờ hững với gợi ý này, vì trước đó, một gợi ý tương tự đã được nhắc đến nhưng không mang lại kết quả. Nhưng lúc này, ông đang bị dồn vào thế bí. Rõ ràng Syria đã vượt qua giới hạn đỏ mà Obama vạch ra, nhưng kế hoạch tấn công Syria của ông lại bị Quốc hội phản đối. Nếu cứ tiến hành thì ông thành người chống lại ý nguyện của nhân dân, mà không thì lại thành kẻ yếu đuối không quyết đoán.

Sau đó, trong một sự kiện ngoại giao khác, phía Nga lại đưa ra một sáng kiến mang tính hòa giải: đề nghị Syria giao nộp vũ khí hóa học để tránh bị tấn công. Đề nghị này được Syria hưởng ứng, và tiếp đó là Mỹ ủng hộ. Obama phải nói như kẻ chết đuối vớ được cọc. Nhưng quan trọng hơn, với thế giới, đó là ngòi nổ cuộc chiến cận kề đã được tháo gỡ.

Thế mới biết, Hòa bình thế giới có thể được cứu vãn bởi vài lờ thì thầm to nhỏ ngoài kế hoạch. Ai biết được việc nào là to, việc nào là nhỏ? Trong ngoại giao quốc tế, không có việc lớn hay việc nhỏ, chỉ có được việc hay không được việc. 

Phẩm hay lượng?

Giờ quay sang giải Nobel Vật lý, vì cũng có nhiều ngoại truyện thú vị. Giải năm nay được trao cho François Engler Peter Higgs cho công trình giải thích vì sao các hạt cơ bản lại có khối lượng.

Trên đường đến Stockholm để nhận giải, Giáo sư Peter Higgs đã cho biết: Ông gần như chắc chắn sẽ bị đuổi việc với hệ thống học thuật hiện thời. Lý do: Làm việc không năng suất!

Sau khi công bố bài báo quan trọng năm 1964, ông công bố được dưới 10 bài báo trong mấy chục năm làm việc tiếp theo. Peter Higgs vì thế trở thành nỗi khó chịu với Đại học nơi ông làm việc khi có kỳ đánh giá kết quả nghiên cứu. Mỗi khi nhận được tin nhắc nhở cập nhật danh mục các công bố khoa học mới, ổng chỉ đơn giản trả lời: Không có!

Trong môi trường học thuật ngày nay, ông cho rằng không đủ sự yên tĩnh để và bình an để làm những nghiên cứu mà ông đã làm năm 1964. Thực tế, ông đã suýt bị đuổi việc trước đó, nếu không được giới thiệu thành ứng cử viên cho giải Nobel Vật lý năm 1980: có thể ông ta sẽ được giải Nobel – nếu không chúng ta có thể cho ông ấy nghỉ việc bất cứ lúc nào, các quan chức của Đại học Edinburgh nhận định. 

Sở dĩ ông được đề cử giải Nobel năm 1980 vì trước đó một năm, Glashow, Salam, Weinberg được trao giải cho thành tích xây dựng Mô hình Chuẩn. Nhưng mô hình này lại dựa chủ yếu vào cơ chế Higgs do ông đề xuất năm 1964, nên nếu ba người đã được giải Nobel thì hiển nhiên ông cũng được cân nhắc.

Sở dĩ ông không được giải năm đó vì thực nghiệm chưa tìm ra hạt Higgs. Theo truyền thống, giải Nobel chỉ trao cho những công trình nào đã được thực nghiệm xác nhận. Tất nhiên việc nào cũng có ngoại lệ, trong Vật lý thì đó là ngoại lệ năm 1979, vì lúc đó hai boson W và Z do Mô hình Chuẩn tiên đoán tồn tại vẫn chưa được tìm ra. 

Giáo sư Higgs chưa từng gửi một email nào, chưa từng sử dụng internet cho việc nghiên cứu, chưa gọi bất cứ một cuộc điện thoại di động nào. Ông giống như người của trăm trăm về trước, khi tất cả sức mạnh trí tuệ đều dựa phần lớn trên sự tưởng tượng, và triển khai ra trên mặt giấy.

Ngay cả tivi ông cũng không có. Khi được thuyết phục xem chương trình Big Bang trên ti vi, ông nói không thấy ấn tượng. 

Năm 1999, ông cũng từ chối việc phong tước hiệp sĩ, một vinh dự lớn với mọi công dân Vương quốc Anh, khi cho rằng hệ thống vinh danh ở đây đã được sử dụng cho mục đích chính trị.

Ông cũng nổi tiếng là người nhút nhát, luôn nép sát mép hành lang để tránh đường cho người khác khi gặp nhau, bất kể đó là ai, đồng nghiệp hay sinh viên.

Ai xứng đáng?

Đầu tiên là bài báo của Peter Higgs, khi gửi cho tạp chí Physics Letters ở CERN vào cuối tháng 7/1964 đã bị từ chối. Sau đó ông gửi đăng ở Physical Review Letters, cùng đăng ở số 13 với hai nhóm độc lập khác. Thế mới biết, tìm được người biết mình không bao giờ dễ. 

Giải Nobel năm nay được thông báo trễ hơn một giờ so với dự kiến, nên François Engler đã không nghĩ là mình sẽ được giải, khi quá giờ rồi mà vẫn chưa thấy tên mình được xướng lên. 

Còn giáo sư Higgs thì tránh truyền thông bằng cách đi nghỉ và không mang theo điện thoại. Điều đó chứng tỏ ông đã tiên đoán được mình sẽ được giải Nobel năm nay. Điều này càng rõ hơn khi ông cũng đã chuẩn bị sẵn một thông báo cho trường Đại học Edinburgh, nơi ông làm việc. Trong đó ông cảm ơn Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển, và không quên nhấn mạnh rằng, giải thưởng cho nghiên cứu cơ bản này hy vọng sẽ giúp nhận thức rõ hơn về các nghiên cứu ở “trên trời”, tức nghiên cứu không có ứng dụng trực tiếp. 

Ngay cả việc trao giải cho ai cũng đau đầu. Trên thực tế, có 3 nhóm độc lập, gồm sáu nhà vật lý: Francois Englert, Peter Higgs, Gerald Guralnik, Tom Kibble, Robert Brout và Carl Hagen, đóng góp chính cho việc phát triển lý thuyết được giải Nobel Vật lý năm nay. GS Brout đã tạ thế, còn lại năm người, trong khi giải Nobel chỉ được trao cho tối đa là ba người. Việc này hẳn cũng tạo áp lực cho Ủy ban xét giải, khi phải cân đo công trạng của từng người. 

Thậm chí, một trong số năm người còn lại, GS Hagen còn đề nghị đổi tên hạt boson Higgs, vì ông cho rằng để như vậy là bất công. 

Chính vì vậy, sau khi hạt Higgs được tìm ra, ngoài hai người được tiên đoán là được giải năm nay, giới khoa học còn bàn tán xem liệu còn ai hay tổ chức nào khác có thể chia giải, vì theo luật, số người nhận giải tối đa là ba người.

Nếu việc trao giải Nobel vật lý được xét đến cả các tổ chức, thay vì chỉ cá nhân, thì rất có thể các nhóm thực nghiệm ATLAS và CMS, hoặc rộng hơn là CERN cũng sẽ được giải, vì chính họ mới là người chứng minh được sự tồn tại của hạt Higgs bằng thực nghiệm. 

Nhưng giải Vật lý lại không trao cho tổ chức như giải Hòa bình. Nên người thứ ba có thể là một trong số ba người còn lại, ngoài Englert và Higgs. Nhưng cuối cùng Ủy ban xét giải đã chọn giải pháp chỉ trao cho hai người.

Một cách vắn tắt và nôm na thì giải Vật lý năm nay trao cho công trình về hạt boson Higgs, truyền thông hay gọi là “hạt của Chúa”, vì nó là hòn đá tảng của Mô hình Chuẩn (SM), lý thuyết đã mang lại hơn hai chục giải Nobel cho các nhà vật lý. Nhưng bản thân Higgs cũng không thấy thoải mái với tên gọi này, nên ông cũng đề xuất gọi hạt Higgs bằng một tên mới: boson vô hướng SM (SM scalar boson), vì trường Higgs là trường vô hướng.

Ông cũng cảm thấy hối tiếc vì hạt Higgs đã được gọi là “hạt của Chúa”, vì nhiều người vin vào đó để làm lẫn lộn khoa học và thần học. Họ cho rằng, với “hạt của Chúa” tìm ra ở CERN, khoa học đã chứng minh Chúa tồn tại!

Thức tỉnh cuối đời 

Cuối cùng, trước khi kết thúc bài viết này, có lẽ cũng cần dành chút ít thời gian để tìm hiểu về Alfred Nobel, người đã lập ra giải thưởng danh giá này. 

Alfred Nobel (1833-1896) là một kỹ sư, nhà hóa học, nhà sáng chế và doanh nhân sản xuất vũ khí người Thụy Điển. Ổng sở hữu 355 bằng sáng chế, đồng thời là người đã chế tạo ta thuốc nổ dynamite và ballistite, hai loại chất nổ rất mạnh và được sử dụng phổ biến cả trong quân sự lẫn công nghiệp. Các phát minh này làm ông trở nên giàu có. Nhưng cũng chính chúng đã góp phần làm cho các cuộc chiến trở nên đẫm máu hơn.

Rất nhiều người đã phê phán ông về các phát minh này, trong đó có người bạn thân thiết của ông, Bertha von Suttner, văn sĩ và nhà hoạt động vì hòa bình người Áo. Tuy nhiên, khi đương đầu với các phê phán này, ông lại cho rằng các phát minh của ông sẽ giúp chấm dứt các cuộc chiến tranh sớm hơn, vì “khi hai quân đội có khả năng hủy diệt nhau chỉ trong vòng vài giây, thì tất cả các quốc gia văn minh sẽ đều quay lung lại với chiến tranh”. 

Năm 1888, anh trai của ông là Ludvig Nobel qua đời khi đến thăm Cannes, một thành phố của Pháp. Một tờ báo Pháp đã nhầm lẫn tưởng là ông qua đời, nên đăng một bài báo có tiêu đề: Thương lái của tử thần đã tử vong (Le marchand de la mort est mort), trong đó có câu: “Tiến sĩ Nobel, người trở nên giàu có bằng cách phát minh ra cách giết người nhiều hơn và nhanh hơn bao giờ hết, đã chết ngày hôm qua”. Alfred Nobel đọc được bài báo này và lấy làm phiền lòng. Ông bắt đầu suy nghĩ về việc người đời sẽ nghĩ và nhờ về mình như thế nào. 

Ngày 27/11/1895, tại câu lạc bộ Thụy Điển – Na Uy ở Paris, Alfred Nobel đã ký bản di chúc của mình, theo đó 94% tài sản của ông, sau khi đã trừ thuế và chia cho những người khác, sẽ được dùng để lập Quỹ Giải thưởng Nobel, dể trao cho các cá nhân “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại” trong các lĩnh vực: Vật lý, Hóa học, Hòa bình, Y Sinh và Văn chương. Năm 1968, Ngân hàng Trung ương Thụy Điển có bổ sung thêm một giải về kinh tế nhân sự kiện 300 năm thành lập ngân hàng này, gọi là giải thưởng về khoa học kinh tế để tưởng nhớ Nobel, nên có thể tạm coi như có thêm một giải Nobel về kinh tế, ngoài các giải đã được Alfred Nobel đặt ra.

Như vậy, từ một sự nhầm lẫn của tòa báo mà Alfred Nobel đã giật mình hình dung cách mình được người đời nhớ đến sau khi mất. Có lẽ ông đã hoảng hốt nhận ra rằng, nếu không thay đổi, thì dù thành công tột bậc về tài chính, ông cũng sẽ bị xú danh muôn thuở như một ‘thương lái của tử thần’ trong lịch sử. Đây là điều ông không muốn, và cũng không ai muốn. 

Từ sự giật mình này, Alfred Nobel đã có một sự thức tỉnh cuối đời đáng giá. Nếu không, khối tài sản của ông có lẽ đã bay hơi hết sau những cuộc khủng hoảng kinh tế và bể dâu thời cuộc, như bao ‘đại gia’ đã đến và đi khác. 

Nếu không có sự thức tỉnh này, chắc hẳn ông sẽ như hàng chục tỉ người đã đến và đi khỏi thế giới này mà không để lại dấu vết, hoặc tệ hơn khi bị gắn mác ‘thương lái của tử thần’.

Nhờ sự thức tỉnh này, không chỉ tên tuổi ông đi vào lịch sử, đất nước Thụy Điển được vinh doanh và hưởng lợi hàng năm từ việc trao giải Nobel, mà thế giới cũng được hưởng những lợi ích to lớn từ những khuyến khích mà giải Nobel mang lại. 

Sự thức tỉnh cuối đời của ông đã để lại một di sản vô giá cho nhân loại.

Giờ đây, khi nói đến Nobel, người ta nghĩ đến những giải thưởng danh giá bậc nhất của khoa học, văn chương và hòa bình, đến những cá nhân xuất chúng được tôn vinh, những bước tiến lớn của nhân loại trong hành trình mở mang hiểu biết và xiển dương nhân văn vì một thế giới tốt đẹp hơn.

Người đời ngưỡng mộ ông, đất nước Thụy Điển tự hào về ông, chứ ít ai còn nhớ ông đã từng được gọi là ‘thương lái của tử thần’. 

Tất cả những điều này có được đều nhờ vào sự thức tỉnh cuối đời, khi ông hình dung mình sẽ được người đời nhớ đến như thế nào sao khi mất. 

Vậy nên, bản thân sự thức tỉnh cuối đời này của ông cũng là một di sản quý giá, và để lại bài học suy ngẫm cho bao người. 

Tuy cùng ở châu Âu, cùng nghiên cứu về một vấn đề, nhưng phải đến tận ngày 4/7/2012, Higgs và Englert mới gặp nhau lần đầu tại trong seminar thông báo về hạt Higgs tại CERN. Ảnh: CERN.



Logo của Tổ chức cấm vũ khí hóa học.Ảnh: Wikipedia.

---

FRANÇOIS ENGLERT là công dân Bỉ, sinh năm 1932 tại Etterbeek, Bỉ. Ông lấy bằng Tiến sĩ tại Université Libre de Bruxelles, Bỉ. Hiện ông là giáo sư danh dự cũng tại trường này. 

PETER W. HIGGS là công dân Anh, sinh năm 1929 tại Newcastle upon Tyne. Ông lấy bằng Tiến sĩ tại King’s College, University of London. Hiện ông là giáo sư danh dự tại University of Edinburgh, Anh Quốc. 

Tổ chức cấm vũ khí hóa học được thành lập năm 1997, có trụ sở tại The Hague, Hà Lan, bao gồm 197 thành viên. Tổ chức này gồm khoảng 500 nhân viên, với kinh phí hoạt động khoảng 71 triệu euro/năm (2012), có chức năng thanh tra và giảm thiểu việc sử dụng vũ khí hóa học.
-----
Ghi chú: Bản rút gọn đã đăng trên Tạp chí Tia sáng, 5/1/2013

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Tủ sách Chuyên gia

Các anh chị và các bạn quý mến,

Nhóm "Tủ sách Chuyên gia" chúng tôi đã có được thỏa thuận sơ bộ về việc dịch và xuất bản các sách Khoa học - Kỹ thuật chuyên khảo cho năm tới. Hiện đề án đang đi vào giai đoạn bảo vệ và hy vọng sẽ được thông qua khoảng đầu tháng 8 này.

Chúng tôi đã xây dựng danh mục sách cần dịch. Tuy nhiên, trong gói đầu tiên này, chúng tôi sẽ ưu tiên dịch những cuốn được đề nghị bởi các trường Đại học và các chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam, sao cho sách dịch ra có thể sử dụng được ngay.

Vậy trong phạm vi chuyên ngành của mình, các anh chị thấy cuốn nào thực sự cần dịch, thì vui lòng cho chúng tôi biết để chúng tôi đưa vào danh mục lựa chọn.

Yêu cầu: 1. Sách công cụ/sách chuyên khảo thực sự cần thiết cho các ngành khoa học, công nghệ mà VN đang đào tạo. 2. Sách hiện đang được sử dụng trong các đại học lớn trên thế giới. 3. Sách được khuyến cáo cần dịch bởi các chuyên gia.

Ý kiến của các anh chị vui lòng gửi về địa chỉ email: giapvan[at]gmail.com.

Cảm ơn sự giúp đỡ của các anh chị.
Trân trọng,
Giáp Văn Dương

Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013

Trường hè "Hành trang Khoa học 2013"

Bạn mến,
Ngày 5-6/8/2013, chúng tôi sẽ tổ chức một Trường hè Khoa học dành cho các bạn sinh viên (đại học, sau đại học..) tại ĐHKH Tự nhiên, ĐHQG HN. Bạn nào quan tâm thì đăng ký tham gia nhé.
Để đăng ký, xin vui lòng gửi CV bằng tiếng Anh đến địa chỉ: truonghekhoahoc@gmail.com .
Một số thông tin chính:

1. Mục đích
Giúp sinh viên hiểu khoa học, hiểu về công việc nghiên cứu, đồng thời cũng trang bị cho sinh viên những kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết để tiếp cận với nghề nghiên cứu thông qua các bài giảng từ các diễn giả là những nhà khoa học, giảng viên có kinh nghiệm nghiên cứu và từng làm việc tại nước ngoài. Trường hè dự kiến được duy trì hàng năm cho sinh viên Việt Nam yêu thích khoa học, và là một hoạt đồng thuần túy học thuật, phi lợi nhuận.

2. Đối tượng
Sinh viên đại học, học viên cao học, nghiên cứu sinh sau đại học và học sinh chuyên. Học viên tham dự trường hè hoàn toàn miễn phí.

3. Nội dung
• Hiểu về khoa học: Khoa học là gì? Phương pháp khoa học; Đạo đức khoa học; Tự do học thuật; Khoa học và nghệ thuật;
• Kỹ năng nghiên cứu khoa học: Cách tiếp cận vấn đề khoa học, kỹ năng nghiên cứu, viết báo;
• Hành trang khoa học: Kỹ năng chuẩn bị hồ sơ, ngoại ngữ, xin học bổng;
• Nghề nghiên cứu: Nghiên cứu như một nghề nghiệp.
Thông tin chi tiết, các bạn có thể tìm thấy tại đây: https://www.facebook.com/truonghekhoahoc2013

Trân trọng,
Giáp Văn Dương

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013

Một số suy nghĩ về Trung tâm Xuất sắc

Giáp Văn Dương 

Trung tâm Xuất sắc (Centre of Excellence) là một mô hình tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ tương đối mới, đã được một số nước anh Anh, Úc, châu Âu, Hàn Quốc, Brazil… sử dụng trong thời gian gần đây. 

Được biết, ngay từ năm 2005, Việt Nam đã có ý định tiếp cận mô hình này, và có thể sẽ triển khai ở qui mô rộng từ nay đến năm 2020. Tuy nhiên, thế nào là Trung tâm Xuất sắc, và làm sao để có Trung tâm Xuất sắc, lại là vấn đề chưa được thảo luận rõ ràng. Vì thế, bài viết này sẽ trình bày một số ý kiến cá nhân của tác giả về Trung tâm Xuất sắc, và chỉ giới hạn trong lĩnh vực khoa học – công nghệ. 

Trung tâm Xuất sắc là gì? 

Như được phản ánh trong tên gọi của nó, Trung tâm Xuất sắc được hiểu là một cơ sở thực sự xuất sắc, đóng vai trò dẫn dắt trong lĩnh vực mà nó hoạt động. Vai trò của nó không chỉ là tạo ra các sản phẩm xuất sắc, mà còn tạo ra những chuẩn mực xuất sắc cho các cơ sở khác noi theo. Điều này có nghĩa, sự xuất sắc phải được đánh giá trong lĩnh vực nó hoạt động, chứ không phải trong phạm vi địa lý mà nó thuộc về. 

Nói ngắn gọn, Trung tâm Xuất sắc phải đứng ở tuyến đầu trong lĩnh vực mà nó hoạt động, xét ở tầm mức quốc tế. 

Trung tâm Xuất sắc có thể xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh khoa học – công nghệ, do bản chất không biên giới của tri thức, nên Trung tâm Xuất sắc là nơi sản xuất ra các công trình khoa học, công nghệ ở tầm dẫn dắt thế giới (world-leading class). Điều này có nghĩa, chất lượng các công trình nghiên cứu của nó phải được cộng đồng khoa học quốc tế thừa nhận. 

Đây là một điểm rất tế nhị đối với các nước có nền khoa học còn kém phát triển. Với các nước đó, đạt đẳng cấp dẫn dắt ở tầm mức thế giới là điều rất khó, nên họ sẽ có xu hướng “hạ chuẩn”, thay vì dẫn dắt ở mức quốc tế, họ đổi thành dẫn dắt ở mức quốc gia. Đây là một sự đánh tráo có chủ ý khái niệm xuất sắc, thay vì xuất sắc trong lĩnh vực mà nó hoạt động, họ lại đổi sang địa lý cục bộ mà nó thuộc về. 

Sự đánh tráo này sẽ vấp phải sự mâu thuẫn lớn với bản chất không biên giới của tri thức, rằng tri thức có tính phổ quát và phi biên giới, nên một tri thức được coi là xuất sắc thì phải được quốc tế thừa nhận. Chẳng hạn, nếu Việt Nam xây dựng một Trung tâm Xuất sắc về Toán, Vật lý, Công nghệ sinh học hay Công nghệ thông tin… thì sản phẩm của nó phải được công bố và thừa nhận bởi cộng đồng các nhà khoa học quốc tế, chứ không phải bởi cơ quan chức năng hau các cơ sở nghiên cứu ở trong nước. 

Tương tự như trong lĩnh vực khoa học công nghệ, trong lĩnh vực đào tạo cũng có Trung tâm Xuất sắc. Đó là nơi đào tạo tốt nhất, có đội ngũ giáo sư giỏi nhất, sinh viên giỏi nhất, thành tích học thuật nổi bật nhất. 

Còn trong lĩnh vực dịch vụ, Trung tâm Xuất sắc là nơi cung cấp dịch vụ nhanh nhất, đầy đủ nhất, hình thức mới nhất, sử dụng nền tảng công nghệ mạnh nhất. 

Tóm lại, Trung tâm Xuất sắc, dù ở trong bất cứ lĩnh vực nào, thì cũng đều phải đứng ở tuyến đầu của tri thức và đóng vai trò dẫn dắt, định chuẩn trong lĩnh vực mà nó hoạt động. 

Nếu không làm được điều này thì trung tâm đó không có lý do gì để được gọi là Trung tâm Xuất sắc. 

Đặc điểm của Trung tâm Xuất sắc? 

Ở cấp độ cá nhân: Trung tâm Xuất sắc là nơi hội tụ các cá nhân xuất sắc, là nơi nhân tài tụ về làm việc và cống hiến. Do đó, một trong những đặc điểm tiên quyết của Trung tâm Xuất sắc là con người xuất sắc, đặc biệt quan trọng là lãnh đạo xuất sắc. 

Ở cấp độ trung tâm: Do phải cạnh tranh với các trung tâm nghiên cứu trên tòan thế giới, Trung tâm Xuất sắc thường tập trung vào một lĩnh vực mũi nhọn, với trang thiết bị hiện đại và hệ thống hỗ trợ mạnh. 

Ở cấp độ hệ thống: Các Trung tâm Xuất sắc thường liên kết tạo thành chuỗi các trung tâm để hỗ trợ nhau, nhưng vẫn nhắm đến việc giải quyết những bài toán lớn trong một lĩnh vực cụ thể nào đó, ví dụ: Công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, Công nghệ thông tin…, thông qua cơ chế chia sẻ tài nguyên, chia sẻ trang thiết bị đắt tiền, và đặc biệt là kết nối với các Trung tâm Xuất sắc quốc tế. 

Muốn làm được những điều như vậy, Trung tâm Xuất sắc phải có cơ chế làm việc ưu tiên, đặc biệt hơn so với các trung tâm thông thường. 

Như vậy có thể thấy, đặc điểm chung của Trung tâm Xuất sắc là mọi yêu cầu và chuẩn mực của nó phải đạt mức xuất sắc. Chi tiết hơn, đó phải là nơi hội tụ tài năng trong nước và quốc tế, là nơi được ưu đãi về cơ chế và cơ sở vật chất, là nơi mà tinh thần tự do học thuật được xiển dương, mạo hiểm khám phá được ủng hộ. 

Làm thế nào để có Trung tâm Xuất sắc? 

Muốn có Trung tâm Xuất sắc, điều kiện tiên quyết là trước hết phải tập hợp được những con người xuất sắc, hội tụ được tài năng trong nước và quốc tế. Tài năng này không chỉ tài năng chuyên môn, mà còn mở rộng ra sang các lĩnh vực khác như tài năng lãnh đạo và quản lý, tài năng trong hệ thống kết nối và hỗ trợ. 

Điều kiện thứ hai là phải xác lập được các chuẩn mực xuất sắc cho các trung tâm này để định hướng và đánh giá hoạt động cho tòan trung tâm, đồng thời làm cơ sở cho các trung tâm đồng nghiệp noi theo. 

Điều kiện thứ ba là phải có cơ chế ưu đãi đặc biệt cho trung tâm này. Một trung tâm chỉ có thể trở thành xuất sắc nếu cơ chế hoạt động của nó cũng phải xuất sắc. 

Điều kiện thứ tư là trung tâm phải có cơ sở vật chất tốt, và trang thiết bị hiện đại, đồng bộ. Nếu không có cơ sở vật chất xuất sắc thì không thể triển cạnh tranh được với các trung tâm khác trên thế giới. 

Điều kiện thứ năm là phải có hệ thống hỗ trợ mạnh. Nếu không có hệ thống hỗ trợ này, trung tâm không thể hoạt động hiệu quả được. 

Điều kiện thứ sáu là trung tâm phải kết nối tích cực và hiệu quả với các Trung tâm Xuất sắc quốc tế, tạo sự giao lưu trao đổi về nhân lực, và đặc biệt là chuẩn mực trong các hoạt động của mình. 

Tóm lại, để có Trung tâm Xuất sắc thì mọi yếu tố liên quan như con người, chuẩn mực, cơ chế vận hành, cơ sở vật chất, hệ thống hỗ trợ, giao lưu quốc tế… đều phải đạt mức xuất sắc. Đó là những điều kiện hiển nhiên cần đáp ứng khi tính chuyện xây dựng các Trung tâm Xuất sắc. 

Trường hợp Việt Nam 

So với các nước phát triển, việc thành lập Trung tâm Xuất sắc ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn gấp bội. Có thể liệt kê một số khó khăn đó như sau: 

1. Nhân lực xuất sắc là khó khăn lớn nhất mà Việt Nam phải đương đầu. Giả sử Việt Nam sẽ thành lập 60 Trung tâm Xuất sắc, tương ứng với 60 cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới trong “Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ gia đoạn 2011-2020”, thì với giải thiết mỗi trung tâm cần ít nhất hai nhà khoa học xuất sắc ở trình độ thế giới, thì sẽ cần tối thiểu là 120 người như vậy. Đây là con số rất lớn. Nếu không có cơ chế đặc biệt để thu hút các nhà khoa học nước ngòai thì khó có thể thực hiện được. 

2. Nền tảng khoa học công nghệ chung của Việt Nam còn thấp, truyền thống khoa học mỏng. Đó là thực tế không thể lảng tránh. 

3. Cơ chế vận hành chung của tòan hệ thống quan liêu, nặng nề. Điều này đã trở thành nút cổ chai cho mọi mọi động của xã hội, không chỉ của lĩnh vực khoa học và công nghệ. 

4. Hệ thống hỗ trợ nặng tính hành chính, kém hiệu quả. Đó cũng là một thực tế cần phải xem xét. 

5. Nền công nghiệp chưa phát triển, liên thông nghiên cứu-công nghiệp hạn chế. Đó cũng là một thực tế ảnh hưởng đến việc xây dựng các Trung tâm Xuất sắc. 

6. Quy mô nền kinh tế nhỏ, nặng tính đầu cơ chụp giật, thị trường khoa học chưa hình thành, gây ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các hoạt động khoa học và công nghệ nói chung. 

7. Xác định lĩnh vực ưu tiên chưa thực sự rõ ràng. Lý do: các hoạt động khoa học công nghệ chỉ thực sự có sức sống bền vững khi kết nối và đáp ứng được các đòi hỏi của nền công nghiệp. Tuy nhiên, công nghiệp Việt Nam vẫn ở tình trạng nhỏ lẻ, chưa có các ngành mũi nhọn ghi được dấu ấn trên thế giới. Điềi này ảnh hưởng lớn đến việc xác định lĩnh vực ưu tiên của các trung tâm nghiên cứu khoa học và côn nghệ. 

8. Đầu tư cho cơ sở vật chất và trang thiết bị hạn chế so với tình hình chung của thế giới, đặc biệt là so với các nước phát triển. Lý do là ngân quỹ dành cho khoa học thấp. Chẳng hạn, Hàn Quốc với số dân khoảng 50 triệu người thì dành kinh phí cho khoa học lên đến khoảng 50 tỷ USD/năm, trong khi Việt Nam, với số dân 90 triệu người thì kinh phí dành cho khoa học, tuy chưa được công bố chính xác, nhưng vào khoảng 2% ngân sách, ứng với mức khoảng 800 triệu USD/năm. Với mức đầu tư hạn chế như vậy, việc xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, đồng bộ là rất khó khăn. 

9. Tự do học thuật chưa đảm bảo; các hoạt động khoa học chịu sự chi phố nặng nề của chính trị, nặng tính phong trào, dẫn đến chuẩn mực học thuật thấp. 

10. Tinh thần khoa học đại chúng chưa hình thành rõ ràng, cộng hưởng với nền công nghiệp nhỏ, nên nguồn cung nhân lực khoa học kỹ thuật trình độ cao bị hạn chế. 

11. Số lượng phát minh sáng chế quá ít, chứng tỏ tính sáng tạo và dẫn dắt thấp. Chẳng hạn, trong khoảng thời gian 2006-2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ, trong khi Nhật có gần 200 nghìn bằng, Đức có hơn 50 nghìn bằng, và Singapore có khoảng 2500 bằng. 

12. Khả năng kết nối với thế giới của các nhà khoa học Việt Nam yếu, do chênh lệch về trình độ, về ngọai ngữ, về động cơ làm việc v.v. 

Ngòai những khó khăn đã nêu trên, thì có một khó khăn thoạt nhìn thì rất tầm thường, nhưng nhìn kỹ thì rất lớn. Đó là: Đặt các Trung tâm Xuất sắc này ở đâu? Trong hệ thống Trường, Viện đã có, hay xây mới hòan tòan? Hay phân phối về các địa phương? Nếu đặt trong các Trường, Viện đã có thì sẽ có mâu thuẫn với cơ sở cũ về đủ mọi mặt: cơ chế vận hành, chế độ ưu đãi… nên sẽ rất khó phát huy tác dụng. Còn nếu đặt bên ngòai hệ thống Trường, Viện đã có thì điều này giống như việc xây dựng một hệ thống mới song hành với hệ thống cũ, nên tất yếu xảy ra va chạm giữa hai hệ thống. Còn nếu phân phối cho các địa phương, giả sử mỗi tỉnh thành có một Trung tâm Xuất sắc, thì thất bại là điều cầm chắc trong tay, do sự thiếu hụt nhân lực xuất sắc ở các địa phương là điều có thể nhìn thấy trước. 

Như vậy, rõ ràng rằng, để trả lời câu hỏi “Đặt ở đâu?” tưởng chừng rất đơn giản này, Việt Nam cần phải rà lại toàn bộ hệ thống tổ chức các hoạt động khoa học của mình. 

Thay lời kết 

Vấn đề lớn nhất của khoa học, công nghệ, văn hóa, giáo dục… Việt Nam hiện giờ là sự trung thực và hội nhập theo tiêu chuẩn quốc tế, tức là trở lại sự bình thường từ trạng thái bất thường. Điều này cũng có nghĩa, trước khi xuất sắc, thì ít nhất cần phải đạt mức chuẩn mực bình thường như của thế giới. Trong quan niệm đó, cải tạo hệ thống các Trường, Viện hiện có theo chuẩn mực của thế giới sẽ hữu ích và đỡ tốn kém hơn việc xây dựng một hệ thống các Trung tâm Xuất sắc mới. 

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận, việc hướng đến thành lập các Trung tâm Xuất sắc ở Việt Nam, về mặt lý thuyết, là một tín hiệu đáng ghi nhận. Song, với nguồn lực hạn chế về mọi mặt trên thực tế, thì tham vọng về việc triển khai đồng loạt các Trung tâm này lại tiềm ẩn một rủi ro đáng lo ngại, vì thế cần phải cân nhắc cẩn trọng. 

Trong hòan cảnh hiện thời, nếu quyết tâm xây dựng các Trung tâm Xuất sắc thì chỉ nên xây dựng bốn trung tâm tại một số trung tâm học thuật lớn, như Hà Nội, Tp HCM, Huế, Cần Thơ. Và để đảm bảo các Trung tâm này thực sự là Trung tâm Xuất sắc, bên cạnh việc xác định lĩnh vực nghiên cứu đúng thế mạnh của Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu về tất cả các mặt, như con người, cơ sở vật chất, cơ chế làm việc, khả năng kết nối… ở mức xuất sắc, thì cũng nên đặt các trung tâm này ra ngòai hệ thống Trường, Viện hiện hành để nó có thể tự chủ và hoạt động hiệu quả. 

-----

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2013

Bí ẩn gen di truyền

60 năm ngày mở cuốn sách bí mật sự sống - Kỳ 1: 

Bí ẩn gen di truyền 

TTCT - Ngày 25-4-1953, tạp chí Nature nổi tiếng của Anh công bố liền ba bài báo khoa học về cấu trúc của ADN (deoxyribonucleic acid) (1). 


Ảnh: reproductive-revolution.com

Sự kiện này là một cuộc cách mạng trong ngành sinh học và y học, và được ví như việc con người bắt đầu mở được cuốn sách về bí mật của sự sống. 

Để ghi nhận công lao của các nhà khoa học đã khám phá ra cấu trúc của ADN, giải Nobel y học năm 1962 được trao cho các tác giả của công trình này. Đó là: Maurice H.F. Wilkins, James D. Watson và Francis H. C. Crick. 

Việc tìm ra cấu trúc của ADN được ví như việc tìm ra định luật II về chuyển động của Newton. Kể từ đó, cấu trúc xoắn kép của ADN đóng vai trò trung tâm trong các nghiên cứu của hai ngành sinh học phân tử và y học, không chỉ làm nền tảng cho các nghiên cứu mà còn định hướng cho các cuộc thám hiểm khoa học mới, đặc biệt là trong việc tìm ra các thuốc chữa bệnh mới cho con người. 

Nếu điểm lại tất cả các thành tựu trong hai ngành khoa học và y học thời gian vừa rồi ta sẽ thấy chỗ nào cũng có bóng dáng của ADN, từ nhân bản vô tính đến liệu pháp gen, đến tế bào gốc, xác định nguồn gốc sinh học... Tất cả có được đều nhờ vào việc khám phá ra cấu trúc của ADN. 

Về mặt triết học, sự khám phá ra ADN cũng là lần đầu tiên thuyết giản lược (reductionism) lật đổ được thuyết lực sống (vitalism) một cách thuyết phục. Vì thế theo Victor McElheny, sử gia của Viện Công nghệ Massachusetts, ngày 25-4-1953 - tức ngày khám phá ra cấu trúc của ADN - là một ngày lịch sử của ngành sinh học và do đó là một ngày lịch sử của khoa học. 

Đây cũng là lần đầu tiên luận điểm cho rằng con người là sản phẩm của hoàn cảnh - một luận điểm phổ biến trong thuyết duy vật lịch sử, bị chứng minh là khiếm khuyết. Vì ngoài việc bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, sự di truyền sinh học là có thật, không chỉ chứng minh được bằng thực nghiệm mà còn được dùng để nhận dạng sinh học, chữa bệnh, thậm chí để truy nguyên tìm hiểu nguồn gốc của nhận thức và bản ngã của con người. 

Sự khám phá cấu trúc ADN, được coi như cuốn sách về bí mật của sự sống, đã tạo ra một xung lượng mới cho các nhà khoa học từ đủ các chuyên ngành khác như vật lý, sinh học, hóa học, toán học, khoa học máy tính, triết học, tâm lý học, giáo dục học... tin tưởng và dấn thân vào con đường khám phá các bí mật của sự sống, và đặc biệt là khám phá những bí ẩn của chính con người thông qua khoa học. 

Đến ngày 14-4-2003, tức 50 năm sau khi khám phá cấu trúc của ADN, con người đã giải mã được bộ gen của mình, lập ra một danh sách gồm 3 tỉ ký tự di truyền của bộ gen người, tạo cơ sở cho hàng loạt khám phá và phát triển của y học, dược học. Ngày nay, bất cứ ai cũng có thể đăng ký giải mã bộ gen của mình với giá vài nghìn đôla. Như vậy, về mặt sinh học, con người đã đọc hết được cuốn sách bí mật về sự sống của chính mình. Việc còn lại là hiểu nó như thế nào và sử dụng những kiến thức đó sao cho hiệu quả và nhân bản. 

Tính từ ngày tìm ra cấu trúc ADN thì đến nay là chẵn 60 năm. Theo quan niệm của phương Đông, đây là vừa tròn một vòng hoa giáp, kết thúc một chu kỳ cũ và mở ra một chu kỳ mới. Vậy chúng ta cùng nhân cái mốc 60 năm này để đọc lại câu chuyện về cuộc khám phá khoa học thú vị này (2). 

Một câu hỏi ám ảnh 

Những câu hỏi cơ bản về sự sống đã ám ảnh con người ngay từ khi họ ý thức được sự tồn tại của mình. Sự sống rõ ràng là một điều kỳ diệu, khác hoàn toàn với thế giới vô tri. Nhưng sự sống cũng là một bí ẩn. Vì thế “Đâu là bí mật của sự sống?” là một câu hỏi đầy ám ảnh. 

Tùy thuộc tôn giáo và văn hóa bản địa, các dân tộc có cách trả lời câu hỏi này, trước hết về bí mật xuất thân của dân tộc mình, rất khác nhau. Chẳng hạn dân tộc Việt cho rằng mình là con rồng cháu tiên, được sinh ra bởi mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân, trong một bọc trăm trứng. Dân tộc Nhật lại cho rằng mình là con cháu của nữ thần Mặt trời... Do đó những truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc ít nhiều đều có thể coi như một cách trả lời câu hỏi về nguồn gốc và bí mật sự sống, xét ở quy mô dân tộc. Và ngược lại, chính việc trả lời câu hỏi dân tộc mình được sinh ra như thế nào lại có thể được coi là một trong những nguyên nhân sâu xa nhất tạo nên các đặc trưng văn hóa của các dân tộc này. 

Ở mức độ cá nhân, câu trả lời về nguồn gốc và bí mật của sự sống phụ thuộc phần nhiều vào đức tin và nhận thức. Người theo đạo Thiên Chúa cho rằng vạn vật là do Thiên Chúa tạo ra, và chính Chúa là người thổi hồn vào các vật vô tri để tạo ra sự sống. Người theo đạo Phật cho rằng sự sống là những vòng luân hồi nối tiếp theo nghiệp quả, vạn vật bình đẳng, bất sinh bất diệt. Còn nhà khoa học thì không hài lòng với những điều mặc định đó mà tìm cách truy tìm những bí mật của sự sống thông qua các bằng chứng thực nghiệm. 

Nhưng công việc tìm kiếm bí mật sự sống bằng khoa học này quả thật không dễ dàng gì. Đến tận đầu thế kỷ 20, tri thức của con người về sự sống vẫn không hơn tri thức thời cổ đại bao nhiêu. Những bằng chứng khoa học về nguồn gốc và cơ chế di truyền sự sống vẫn vô cùng ít ỏi. 

Con người dường như chạm phải một bức tường vô hình trong hành trình tìm hiểu chính bản thân mình, đặc biệt là trong việc tìm hiểu một trong các cơ chế hiển nhiên nhất - cơ chế di truyền. Thậm chí đến tận giữa thế kỷ 20, thuyết lực sống (vitalism) - hay còn gọi là thuyết sức sống, bắt nguồn từ thời Aristotle (384-322 trước Công nguyên), cho rằng sự sống không thể giải thích được hoàn toàn bằng vật chất - vẫn còn thịnh hành. 

Thuyết này còn được sự ủng hộ của các triết gia lớn như Nietzsche, H.Bergson và W.Dilthey để phản đối chủ nghĩa duy vật và thuyết duy tâm của Kant (3). Xét riêng trong ngành sinh học thì thuyết này xét sự sống như một tổng thể và cho rằng không thể hiểu thấu đáo cơ chế của sự sống bằng cách phân tích. Ngược lại, những người theo thuyết giản lược (reductionism) trong sinh học thì lại cho rằng các quá trình cơ bản của sự sống hoàn toàn có thể hiểu được thông qua việc chia nhỏ và phân tích khoa học. 

Bí ẩn gen di truyền 

Cơ chế di truyền, nói nôm na là cơ chế sinh sản, từ lâu đã là mối bận tâm lớn của các nhà khoa học và triết học. Trong số các lý thuyết về sinh sản trước khi ngành di truyền hình thành thì thuyết lồng vào nhau cho rằng thành viên của các thế hệ kế tiếp được lồng vào nhau như những vòng tròn móc nối vào nhau, nên mang đặc tính giống nhau, là có vẻ chặt chẽ hơn cả (4). Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của thuyết này là không thể giải thích được sự tiến hóa trong giới sinh vật. 

Còn nhớ G.J.Mendel (1822-1884) là người đầu tiên đề xuất về một cơ chế di truyền qua thí nghiệm về sự lai giống đậu Hà Lan năm 1865. Tuy nhiên, công trình của ông bị rơi vào quên lãng và chỉ được phát hiện lại bởi ba nhà khoa học độc lập Hugo de Vries, Carl Correns và Erich von Tschermak 35 năm sau đó. Kể từ đây, ngành di truyền học có những bước phát triển mới. 

Đến những năm 1930, ý niệm về gen di truyền đã hình thành rõ nét và được chấp nhận trong giới sinh học. Nhưng gen là gì vẫn còn là một bí ẩn, vẫn là một khái niệm trừu tượng, được sử dụng làm công cụ tiện dụng cho việc giải thích các kết quả nghiên cứu về di truyền, còn bản chất của nó vẫn là một điều còn bỏ ngỏ. 

Cho đến những năm đầu 1940, các nhà khoa học tin rằng gen chính là các protein. Nói cách khác, các phân tử protein là vật liệu di truyền. Tuy nhiên, trong bài báo kinh điển của mình công bố năm 1944, nhóm ba nhà khoa học Avery, MacLeod và McCarty (5) đã lần đầu tiên chỉ ra rằng vật liệu di truyền chính là các ADN. 

Nhưng làm thế nào mà ADN, một loại phân tử vẫn bị coi là trơ, lại trở thành gen di truyền và nắm giữ bí mật của sự sống? Để trả lời được câu hỏi này, cần thiết phải khám phá bằng được cấu trúc của ADN. Đó chính là nhiệm vụ mà các nhà khoa học tự đặt ra cho mình từ nửa cuối thập niên 1940. Và một cuộc đua tìm kiếm cấu trúc của ADN đã bắt đầu, âm thầm nhưng không kém phần quyết liệt. 


Giải Nobel y học năm 1962 được trao cho ba nhà khoa học Francis Harry Compton Crick, James Dewey Watson và Maurice Hugh Frederick Wilkins đã “khám phá ra cấu trúc phân tử của các axit nucleic và ý nghĩa của chúng trong việc truyền thông tin trong các sinh vật” (6). 

GIÁP VĂN DƯƠNG 

Kỳ 2: Mở cuốn sách bí mật sự sống 

____________ 

(1): Watson J.D. and Crick F.H.C., A Structure for Deoxyribose Nucleic Acid, Nature 171, 737-738 (1953); Wilkins M.H.F., A.R. Stokes A.R. & Wilson, H.R, Molecular Structure of Deoxypentose Nucleic Acids, Nature 171, 738-740 (1953); Franklin R. and Gosling R.G, Molecular Configuration in Sodium Thymonucleate, Nature 171, 740-741 (1953)
(2): Từ phần này trở đi, bài viết có sử dụng và diễn giải các tư liệu của wikipedia.org, nobelprize.org và exploratorium.edu.
(3): Ted Hondrich, Hành trình cùng triết học, NXB Văn Hóa Thông Tin 2002, tr.1140.
(4): Albert Jacquard, Con người và gen, Nguyễn Ngọc Thuân dịch, NXB Tri Thức, 2010.
(5): J. Exp. Med. 79, 137-159 (1944)
(6): Nguyên văn: The Nobel Prize in Physiology or Medicine 1962 was awarded jointly to Francis Harry Compton Crick, James Dewey Watson and Maurice Hugh Frederick Wilkins ”for their discoveries concerning the molecular structure of nucleic acids and its significance for information transfer in living material”.

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2013

Khoa học Việt Nam 2012: Những chuyển động trong gian khó


GIÁP VĂN DƯƠNG | 01/01/2013 18:31 (GMT + 7)

TTCT - Năm 2012 là một năm khó khăn đối với Việt Nam. Khoa học cũng không ngoại lệ. Nhưng trong cơn gian khó đó khoa học vẫn chuyển động. Những sự thất vọng cũ, những niềm hi vọng mới, những phấp phỏng về tương lai vẫn làm xáo động tâm tư người quan tâm đến khoa học nước nhà.


Nỗi buồn khoa học
Năm 2012 nở rộ nhiều đánh giá định lượng về khoa học Việt Nam. Những con số thực cho thấy tiềm lực khoa học - công nghệ của đất nước vẫn ở mức yếu. Tổng số công bố quốc tế của Việt Nam chỉ tương đương số công bố của Đại học Chulalongkorn (Thái Lan).
Nếu so sánh với các trường đại học lớn trong khu vực, như Đại học Quốc gia Singapore (NUS), con số này chỉ còn khoảng 1/4. Năm 2011, NUS công bố 6.751 bài báo khoa học quốc tế (ISI) và 361 bằng sáng chế được đăng ký, 278 phát minh được công bố (1), (2); trong khi cả Việt Nam chỉ công bố được 1.691 bài (2). Cũng trong năm 2011, Việt Nam không có bằng sáng chế nào được đăng ký tại Mỹ, trong khi Singapore có 647 bằng (3).
Nếu tính đến chất lượng trung bình của các công bố khoa học, thông qua đồng nghiệp quốc tế trích dẫn, tiềm lực khoa học của Việt Nam còn thấp hơn nữa.
Lưu ý rằng lực lượng nghiên cứu của Việt Nam đông gấp bội so với các nước trong khu vực. Hiện cả nước có hàng chục nghìn tiến sĩ và gần 1 vạn giáo sư, phó giáo sư. Nếu so sánh với lực lượng nghiên cứu của NUS (khoảng 2.100 người) thì năng suất khoa học của họ cao hơn Việt Nam hàng chục lần.
Với người làm công tác quản lý ngành khoa học - công nghệ, nếu thật sự quan tâm đến nền khoa học của nước nhà thì những con số này cần phải được mổ xẻ, để từ đó tìm ra nguyên nhân của tình trạng “thất thu” trong khoa học này. Nếu không, khoa học Việt Nam sẽ còn tiếp tục tụt hậu.
Chuyển động trong gian khó
Bên cạnh những con số buồn như đã nêu trên, trong hoàn cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, khoa học Việt Nam cũng có những chuyển động đáng quan tâm.
Đầu tiên phải kể đến dự án hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc để xây dựng Viện Khoa học - công nghệ Việt - Hàn (V-KIST). Tuy mới chỉ dừng ở mức dự án nhưng V-KIST đã thu hút được sự quan tâm của giới khoa học, và được đánh giá là một chuyển động tích cực. Một phần cũng là do kỳ vọng vào những thành công thần kỳ của viện nguyên bản (Viện Khoa học - công nghệ Hàn Quốc, KIST) và vai trò của viện này đối với sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước Hàn Quốc.
Một phần khác là do hiện trạng khá rệu rã của khoa học - công nghệ Việt Nam khiến nó thật sự rất cần một cú hích mới. Trong hoàn cảnh đó, kỳ vọng vào một làn gió mới như V-KIST - một nơi để các nhà khoa học chân chính có thể chuyên tâm làm việc - là một mong muốn chính đáng của người làm khoa học.
Tiếp theo đề án V-KIST, ngày 11-4-2012, chiến lược về khoa học - công nghệ quốc gia đã được thông qua. Tuy còn chứa nhiều mục tiêu duy ý chí như đến năm 2020 giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% GDP, hình thành 5.000 doanh nghiệp khoa học - công nghệ, 60 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, 60 cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao..., nhưng sự “hiện hình” của một chiến lược chung cho khoa học cũng cần được coi là một chuyển động đáng ghi nhận.
Điều đáng bàn hiện giờ là triển khai chiến lược này ra sao để tránh tình trạng hành chính hóa, làm chiến lược chỉ để báo cáo giết thời gian mà không mang lại hiệu quả thực tế gì đáng kể.
Một trong những nút nghẽn của khoa học - công nghệ là cơ chế tài chính cho khoa học - công nghệ. Dù đã cố gắng vận động để thay đổi nhưng đến nay vẫn chưa thành công. Dự thảo Luật khoa học - công nghệ 2012, với một trong những điểm nhấn là sự thay đổi về cơ chế tài chính cho khoa học - công nghệ, đã không được thông qua trong kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII tháng 11 vừa rồi. Mong muốn về một cuộc “khoán 10” trong khoa học, một sự giải phóng năng lực vì vậy vẫn chưa có cơ hội để trở thành hiện thực.
Trong một chuyển động khác, ngày 19-9-2012, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam đã được khởi công tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc, với số vốn đầu tư lên đến 600 triệu USD từ nguồn vay ODA của Nhật Bản. Đây là một trong những dự án đầu tư cho khoa học - công nghệ lớn nhất từ trước đến nay. Tuy chưa ước tính được hiệu quả ra sao, nhưng việc khởi công Trung tâm Vũ trụ cũng có thể được coi là một dấu mốc quan trọng cho ngành công nghiệp non trẻ này của Việt Nam.
Những câu chuyện cá nhân
Trong khi những chuyển động khoa học - công nghệ nói trên còn chưa định hình được kết quả rõ ràng thì một số nhà khoa học người Việt, chủ yếu ở nước ngoài, lại có những thành tựu hoặc đóng góp rất đáng kể.
Đầu tiên phải kể đến Tổ chức Gặp gỡ Việt Nam do giáo sư Trần Thanh Vân khởi xướng, năm 2012 đã tổ chức bốn hội thảo vật lý quan trọng, thu hút nhiều nhà khoa học quốc tế danh tiếng đến tham dự. Đặc biệt, hai hội thảo trong tháng 7-1012 đã bắt nhịp với sự kiện công bố khả năng tìm ra hạt Boson Higgs của Tổ chức Nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN). Dự kiến đến năm 2013, trung tâm hội nghị hội thảo của Gặp gỡ Việt Nam sẽ được khánh thành, hứa hẹn nhiều hoạt động gặp gỡ và trao đổi giữa cộng đồng khoa học trong nước và quốc tế.
Năm 2012, giáo sư Đàm Thanh Sơn được bổ nhiệm làm giáo sư đại học ở Đại học Chicago danh tiếng, sau khi công bố những nghiên cứu đột phá trong vật lý lý thuyết thời gian gần đây. Cùng với giáo sư Ngô Bảo Châu, cũng đang ở Đại học Chicago, rất có thể những hạt mầm mới của khoa học Việt Nam sẽ được ươm trồng tại ngôi trường này.
Viện Nghiên cứu cao cấp về toán do giáo sư Ngô Bảo Châu chủ trì cũng đã đi vào hoạt động. Lớp học mùa hè đầu tiên do giáo sư Châu trực tiếp hướng dẫn có 15 học viên, trong đó nhiều em đang được đào tạo ở những trường đại học thuộc diện tốt nhất thế giới đã vượt nửa vòng trái đất trở về Việt Nam học toán.
Năm 2012 cũng ghi nhận một thành công đáng kể của giáo sư Vũ Hà Văn, Đại học Yale, với giải thưởng toán học Fulkerson - giải thưởng dành cho các công trình xuất sắc trong lĩnh vực toán học rời rạc, do Hội Toán tối ưu thế giới và Hội Toán học Mỹ trao tặng ba năm một lần. Giáo sư Vũ Hà Văn, 42 tuổi, cũng là thành viên của hội đồng khoa học của Viện Nghiên cứu cao cấp về toán.
Những điều đó cho thấy dưới sự tác động và thành công của các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài, khoa học Việt Nam đã có một số chuyển động quan trọng trong việc bắt nhịp với những dòng chảy khoa học lớn của thế giới.
Tri âm ai đó mặn mà với ai?
Những câu chuyện thành công của các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài là một khích lệ lớn đối với những người quan tâm đến khoa học Việt Nam. Trong khi những chuyển động trong chính sách còn chưa mang lại kết quả rõ ràng, những rào cản của khoa học - công nghệ, chẳng hạn vấn đề lương của người làm khoa học và cơ chế tài chính cho khoa học - công nghệ, còn chưa được tháo gỡ, thì những thành công cá nhân này là niềm vui chung của cả cộng đồng.
Trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên của Văn Miếu Quốc Tử Giám có khắc một câu nổi tiếng của Thân Nhân Trung: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Hiểu theo nghĩa ngày nay thì hiền tài là cội nguồn của sự phát triển. Với Việt Nam, câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc chúng ta có hiền tài hay không, mà còn ở việc hiền tài tụ hay tán.
Những câu chuyện thành công cá nhân không thể che lấp được một thực tế rằng năng lực khoa học của Việt Nam còn quá yếu so với bạn bè quốc tế. Những câu chuyện thành công cá nhân này cũng cho thấy các tài năng khoa học Việt Nam đang tản mát ở khắp nơi. Người xưa quan niệm: khí tụ thì sinh, khí tán thì diệt. Với mỗi quốc gia, chỉ cần quan sát dòng nguyên khí - hiền tài đang tụ hội hay tản mát là có thể tiên đoán được vận mệnh của quốc gia sẽ suy hay thịnh.
Để phát triển, Việt Nam không còn cách nào khác phải hội tụ tài năng để cùng xây dựng đất nước. Vì thế, sự trở về của một số nhà khoa học thời gian gần đây, dù được công bố rộng rãi hay trở về trong âm thầm, là một tín hiệu vui và đáng ghi nhận. Vấn đề còn lại là làm sao để niềm vui đó được nhân mãi thêm lên.
___________
(1): Research Statistics, Ofice of the Deputy President (Science & Techonology), NUS. 

(2): ISI Web of Knowledge. 
(3): United States Patent and Trademark Office, Patents By Country, State, and Year - All Patent Types, Granted: 01/01/1977 - 12/31/201.

---