Hiển thị các bài đăng có nhãn sách giáo khoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sách giáo khoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2020

TS Giáp Văn Dương: Có sách giáo khoa mới, nhưng vẫn cần triết lý giáo dục tường minh

10/09/2020 | 09:28

(Ngày Nay) - Tiến sĩ Giáp Văn Dương là cử nhân Đại học Bách Khoa Hà Nội sau đó lấy bằng Tiến sĩ tại Đại học Công nghệ Vienna (Áo) năm 2013. Tiến sĩ Giáp Văn Dương có nhiều năm học tập, làm việc và nghiên cứu về các vấn đề giáo dục cả trong và ngoài nước. Hiện anh đang công tác tại một trường tư thục ở Hà Nội. 


TS Giáp Văn Dương

Ngày Nay đã có buổi trò chuyện với Tiến sĩ Giáp Văn Dương về 5 bộ sách giáo khoa lớp một mới của Việt Nam vừa được phát hành.

Phóng viên (PV): Năm nay, 5 bộ sách giáo khoa mới dành cho Lớp 1 chính thức được đưa vào giảng dạy. Các địa phương có thể tuỳ chọn bộ sách phù hợp nhất. Anh nhìn nhận sự kiện đặc biệt này như thế nào?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương: Là một người làm giáo dục, đang trực tiếp làm việc tại một trường tư thục tại Hà Nội, tôi rất vui vì năm nay có 5 bộ sách giáo khoa (SGK) được đưa vào sử dụng. Nói nôm na thì năm nay có năm món để các trường chọn, thay vì chỉ một món như mọi năm. Như thế là vui, là tốt hơn rất nhiều (cười).

Chất lượng các bộ SGK năm nay cũng hơn hẳn các năm trước. Không chỉ về nội dung, mà hình thức cũng đẹp hơn. Tuy còn xa mới được đẹp như SGK của các nước, nhưng như vậy cũng đã cải thiện rất nhiều. Xin lưu ý, sách đẹp rất quan trọng. Muốn trẻ thích học, thì sách phải đẹp. SGK của ta trước đây, và hiện vẫn tiếp tục sử dụng cho khối 2 trở lên, in ấn và minh họa quá xấu.

Trong thời đại cạnh tranh của đủ loại media và truyện tranh, thì SGK lại càng phải đẹp thì mới thu hút được trẻ học. Tôi phát hiện ra điều này khi thấy con mình trước đây rất thích mang sách ra tự học khi còn ở nước ngoài, nhưng về VN thì không thế nữa. Hỏi tại sao, thì con nói vì sách quá xấu.

Vì thế, khi cầm các bộ SGK của Lớp 1 năm nay trên tay, tôi rất vui, và hy vọng đó là một cú hích quan trọng để cải thiện chất lượng giáo dục trong những năm tới.

PV: Tôi cũng là một phụ huynh học sinh, thú thực khi nhìn vào số lượng đầu sách, tôi thấy có mừng nhưng cũng thấy băn khoăn. Sách nhiều quá, có 8 môn, 9 quyển. Năm nay có cả sách dạy thể chất, dạy Trải nghiệm, Âm nhạc, Mỹ thuật, Đạo đức… Liệu với đầu sách như thế, khối lượng lý thuyết nhiều như thế, học sinh lớp một có kịp đọc hết không?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương: Nói chung, số lượng đầu sách cho mỗi bộ cũng không nhiều hơn các năm trước. Lý do là các bộ sách cần phải tải đủ chương trình giáo dục phổ thông đã được ban hành. Số lượng các môn là cố định.

Nội dung cơ bản cũng như vậy. Nếu có đầu sách nào trước đây không có, như đầu sách về hoạt động trải nghiệm hay giáo dục thể chất chẳng hạn, thì là do trước đây thiếu. Vì thế, năm nay có các đầu sách này sẽ có thêm lựa chọn cho giáo viên tham khảo. Không nên lo lắng, băn khoăn vì nhìn chung trẻ em thích học bằng cách xem hình vẽ, mà hình vẽ khá đẹp nên đây là một điều tốt cho trẻ.

Việc chọn sách năm nay cũng có một chi tiết thú vị, đó là: Với khối tư thục thì các trường có thể chọn sách cho riêng mình nên mỗi trường có thể chọn một bộ, hoặc kết hợp các đầu sách hay của các bộ khác nhau. Riêng với trường công thì việc chọn sách có thể chịu nhiều ràng buộc hơn nên không được tự do nhu trường tư. Nhưng về đại thể, nếu thực đơn có nhiều món để chọn thì tất nhiên vẫn vui hơn là chỉ có một món phải không nào?


PV: Được biết anh đang công tác tại một trường tư thục, hiện nay, trường của anh sử dụng sách giáo khoa như thế nào, có sự khác nhau căn bản nào giữa SGK của trường tư thục so và SGK của trường công lập tại Việt Nam?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương: Tôi hiện làm việc tại Trường Tiểu học Times School. Chúng tôi chọn bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống” làm SGK cho Lớp 1 năm học mới. Đây là bộ sách được chúng tôi đánh giá cao, và tin tưởng sẽ góp phần quan trọng trong việc tạo ra chất lượng giáo dục trong năm học mới.

Trên nguyên tắc, trường tư thục và công lập đều có tự do như nhau trong việc thẩm định và lựa chọn SGK. Tuy nhiên, khi đi vào thực tế, thì mức độ tự do có thể có khác nhau. Với chúng tôi, mục tiêu chọn được một bộ sách tốt, phù hợp với triết lý giáo dục, giá trị cốt lõi, phương pháp giáo dục của nhà trường là quan trọng nhất.

Tôi hy vọng cơ chế này sẽ tiếp tục được duy trì trong những năm sau để tránh việc áp đặt chọn SGK từ các cơ quan chủ quản xuống, vì suy cho cùng, chỉ nhà trường và các thầy cô mới có thể đánh giá chính xác nhất đâu là bộ sách tốt nhất, phù hợp nhất với trường mình.

PV: Tại các quốc gia nước ngoài anh đã tới để học tập, nghiên cứu và cho con em mình theo học, anh thấy sách giáo khoa của họ có ưu, nhược điểm gì so với SGK Việt Nam?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương: SGK của nước ngoài, ít nhất là ở những nơi tôi đã sống và làm việc, nhìn chung đều vượt trội cả về nội dung và hình thức so với SGK của chúng ta. Lý do thật đơn giản, đó là các nước có nền kinh tế, khoa học, giáo dục… phát triển hơn chúng ta. Nói cách khác, mặt bằng chung của họ cao hơn, nên SGK cũng tốt hơn và đẹp hơn. Nhờ đó mà nội dung SGK cập nhật, hiện đại, khoa học. Minh họa và in ấn cũng đẹp hơn rất nhiều.

Tôi có thể minh họa điều này bằng một chi tiết rất nhỏ mà ít người để ý: Chúng ta hiện rất khó làm sách giáo khoa đẹp và tốt, vì kho ảnh chất lượng dùng để minh họa cho sách hầu như không có. Hình minh họa của ta chủ yếu là hình đồ họa, hoặc ảnh chất lượng thấp, nhiều khi chỉ ở mức minh họa cho có, chứ không phải là những hình ảnh sống động, chân thực. Nhiều lúc tôi nghĩ, không biết cho đến khi nào mình mới có được kho ảnh, kho tư liệu đủ để làm ra các bộ SGK đẹp như của họ.


Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là họ có tự do học thuật thực sự, có nhiều bộ SGK để nhà trường và giáo viên lựa chọn khi giảng dạy. Chính yếu tố này làm ra sự khác biệt về chất lượng các bộ SGK, và xa hơn là chất lượng giáo dục.



PV: Bộ GD-ĐT đã mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc để cho ra đời những bộ SGK mới cho từng cấp học. Theo anh, việc ra đời SGK mới có thể thay đổi được thực trạng dạy và học tại Việt Nam hay không?

Tiến sĩ Giáp Văn Dương: SGK chỉ là một phần nhỏ trong việc tạo ra chất lượng giáo dục. Phần quyết định nằm ở các nội dung còn quan trọng hơn cả SGK, triết lý giáo dục và hệ giá trị mà nhà trường theo đuổi, chất lượng của đội ngũ giáo viên, tinh thần và phương pháp giáo dục chủ đạo, hành chính giáo dục, mô hình tổ chức và quản trị trường học, cách thức thi cử…

Với tôi, tất cả các điều này đều quan trọng, thậm chí quan trọng hơn cả SGK trong việc tạo ra chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, các nội dung này, cái thì vô hình, cái thì quá khó để thay đổi, hoặc nằm ngoài tầm kiểm soát của ngành giáo dục, nên tất cả đổ dồn cho SGK.

Vì lẽ đó, tôi cho rằng, với sự ra đời của các SGK mới, chất lượng giáo dục có cải thiện nhưng không có đột phá khi các yếu tố còn lại hầu như không thay đổi. Đơn cử như nếu cách thức thi cử không thay đổi thì cách dạy, cách học sẽ vẫn giữ nguyên như cũ.

Chúng ta có truyền thống học để thi, nên thi gì học nấy. Nếu thi vẫn như cũ, thì học cũng sẽ vẫn như cũ. Mà quan sát của tôi cho thấy cách thức thi cử hiện nay không tốt hơn ngày xưa, nhiều khía cạnh còn thụt lùi khi tìm cách thi trắc nghiệm những nội dung không thể trắc nghiệm.


PV: Anh đã từng viết nhiều về sự bế tắc của giáo dục cũng như triết lý giáo dục dường như không tồn tại ở Việt Nam? Theo anh khi bộ SGK mới ra đời, nó có thay đổi được triết lý giáo dục hay không?


Tiến sĩ Giáp Văn Dương: Triết lý giáo dục rất quan trọng, vì nó trả lời thẳng thừng vào câu hỏi: Chúng ta định đào tạo con người nào? Chỉ khi nào có một triết lý giáo dục đúng đắn dẫn dắt, thì các hoạt động giáo dục mới trở nên có ý nghĩa và có tính hướng đích.

Khi đó, thầy sẽ biết rất rõ sản phẩm mình sẽ đào tạo ra cần có những phẩm tính gì, và làm thế nào để đạt được điều ấy. Trò cũng biết rất rõ học thế nào và học để làm gì. Nhà trường, và rộng hơn là cả hệ thống giáo dục, sẽ biết cách tổ chức và vận hành làm sao để hiện thực hóa được triết lý giáo dục mà mình đã lựa chọn.

Tuy nhiên, hiện giờ thì triết lý giáo dục là một sự bế tắc và một cơn đau đầu kinh niên của giáo dục Việt Nam. Đau đầu và bế tắc không phải vì không ai biết bệnh, mà vì không dám gọi tên một cách tường minh và tìm cách chữa trị nó. Vì thế, những cải cách trong mấy chục năm qua cứ quẩn quanh giậm chân tại chỗ.

Điều này cũng giống như một người không có triết lý và giá trị sống, nên không biết sống để làm gì và mất định hướng trong việc ra các quyết định quan trọng. Hệ quả là cứ chạy theo sự vụ và dư luận để đối phó và phản ứng.

Trong hoàn cảnh như thế, sự ra đời của các bộ SGK lớp một mới là một cố gắng cần ghi nhận, nhưng tạo ra những phát triển đột phá trong giáo dục thì cần nhiều nỗ lực hơn thế, mà xác lập một triết lý giáo dục tường minh và đúng đắn để dẫn dắt là một trong những công việc cần phải làm.

Chỉ e là do né tránh, không dám đối mặt với vấn đề căn cốt này, nên triết lý giáo dục sẽ còn tiếp tục bị bỏ ngỏ trong thời gian tới. Khi đó, các bộ SGK mới sẽ chỉ như một nỗ lực chắp vá trong cải cách giáo dục. Thậm chí, tự do lựa chọn bộ SGK mới cho các trường như hiện giờ cũng sẽ bị đe dọa.

PV: Xin trân trọng cám ơn anh!

Việt Hoàng

Khi thiếu triết lý giáo dục dẫn dắt


Phản ứng của xã hội về SGK những ngày qua cho thấy một nội dung rất quan trọng: Khi biên soạn bộ SGK này, các tác giả đã không có một triết lý giáo dục đúng và tường minh dẫn dắt, nên các tác giả đã không hình dung được SGK của mình sẽ được sử dụng để đào tạo con người nào. 

Khi đã không biết rõ sách mình viết ra để đào tạo con người nào thì sẽ rất dễ rơi vào viết… nhảm. Cũng giống như người thầy, khi không biết những điều mình dạy sẽ góp phần đào tạo ra con người nào thì sẽ chỉ có thể dạy theo máy móc, và cũng rất dễ dạy… nhảm.

Vì thế, ngữ liệu, nội dung, hình ảnh minh họa... sẽ thiếu nhất quán, tự phát và bị giới hạn bởi trải nghiệm tuổi thơ và giáo dục của chính các tác giả. Đó chính là lý do vì sao trong sách hay có nhiều từ địa phương, xa lạ và ít sử dụng với trẻ em hiện giờ.

Ngoài ra, cách dùng từ ngữ, cách nói của các tác giả khi còn nhỏ cũng đi thẳng vào SGK vì cho rằng trẻ con nào cũng sẽ nói năng như vậy. Nhưng thực tế không phải vậy, vì vùng miền khác nhau, thời đại khác nhau, nên cách dùng từ của trẻ hiện nay sẽ rất khác so với cách dùng từ của các tác giả khi còn nhỏ trước kia.

Khi đã thiếu triết lý giáo dục dẫn dắt, tự phát và bị giới hạn bởi quá khứ như thế, những gì được viết ra trong SGK sẽ là những gì thuộc về tiềm thức và trải nghiệm tự nhiên của chính các tác giả, những người đã rất cũ, đã thuộc về quá khứ, chứ không phải những gì dành cho các thế hệ tương lai, thuộc về một thời đại hoàn toàn mới.

Chưa kể, điểm yếu cốt tử của việc biên soạn SGK từ xưa đến nay vẫn chưa khắc phục được, đó là: Không có một tổng công trình sư chỉ huy việc biên soạn SGK cho toàn cấp học. 

Việc này dẫn đến một thực tế rằng, các tác giả trong cùng một bộ sách, nhưng thuộc các bộ môn khác nhau, hiếm khi làm việc cùng nhau để đồng bộ hóa, dẫn đến nhịp đi của các bộ sách bị vênh nhau, gây khó cho học sinh và giáo viên, làm giảm chất lượng giáo duc rất nhiều. 

Những điều này chỉ có thể khắc phục khi: Xác lập được một triết lý giáo dục đúng để dẫn dắt việc biên soạn SGK, bộ bộ giá trị cốt lõi làm khung tham chiếu, một nhóm phương pháp giáo dục tiên tiến để truyền tải các nội dung này, và một tổng công trình sư đủ tầm vóc để chỉ huy việc biên soạn SGK cho toàn cấp học.

Nếu không, thì các bộ SGK của năm sau cũng không hy vọng sẽ khắc phục được các sai sót này.
---
Với bộ SGK Lớp 1 năm nay: Thật đúng đắn khi chúng tôi quyết chọn bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống" làm SGK Lớp 1 cho Times School, mặc dù khi đó đa số các trường trong Quận đều chọn bộ sách khác.

Nếu không, chắc giờ này đang đau đầu vì SGK lớp 1 .


Nguồn: Facebook Giáp Văn Dương ngày 10/10/2020

Chọn Sách Giáo Khoa như thế nào?

Liên quan đến các thảo luận về SGK Lớp 1 năm nay, tôi có trao đổi các tiêu chí lựa chọn SGK mà tôi đã sử dụng với phóng viên của báo Thanh Niên, số ra ngày 13.10.2020. Xin đăng lại đây để mọi người tham khảo.

---
Khi chọn SGK, tiêu chí đầu tiên của chúng tôi là: Bộ SGK này có tương thích với triết lý giáo dục, giá trị cốt lõi, phương pháp giáo dục của đạo của trường chúng tôi hay không. Nếu thấy có thể tương thích, hoặc ít nhất cũng ở mức không xung đột, thì chúng tôi sẽ xem xét lựa chọn.

Tiêu chứ thứ hai là nội dung của cuốn sách, bao gồm cả bố cục và nội dung chi tiết, hình minh họa có khoa học và phù hợp với mong đợi của chúng tôi? Các nội dung này có phù hợp với trình độ của giáo viên để giảng dạy, và có phù hợp với tâm sinh lý của học sinh để học tập.

Thực tế, nội dung các bộ SGK đều phải tuân thủ chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, nhưng vẫn có sự thăng giáng và khác biệt trong tổ chức nội dung và hình minh họa. 

Những chi tiết nhỏ đó sẽ cho biết trình độ và sự tinh tế của nhóm tác giả, cũng đồng thời tạo ra chiều sâu của bộ sách, để các giáo viên giỏi và những học sinh giỏi có thể khám phá thêm.

Tiêu chí thứ ba là ngữ liệu và hình ảnh minh họa có phù hợp với lứa tuổi, vùng miền? Trường của chúng tôi ở Hà Nội, vậy các từ ngữ và hình ảnh minh họa có quá xa lạ với học sinh thành phố? Nếu có thì mức độ có chấp nhận được hay không?

Tiêu chí thứ tư là tính liên thông của các môn học khác nhau trong cùng một bộ sách có tệ quá không? Vì thực tế, đây là một nhược điểm của các bộ SGK của chúng ta, khi các tác giả của các bộ môn khác nhau có vẻ không trao đổi với nhau để đồng bộ hóa chương trình giáo dục. 

Tiêu chí thứ năm là SGK có hàm chứa những nội dung có thể khơi gợi sự sáng tạo để học sinh khám phá, có phù hợp để triển khai phương pháp “Đồng kiến tạo” của chúng tôi, có dành không gian cho giáo viên và học sinh, hay chỉ có thể dạy theo lối dập khuôn, máy móc?

Tiêu chí thứ sáu là nhóm tác giả viết SGK đó là ai? Có phải là những chuyên gia mà chúng tôi có hiểu biết trực tiếp và có sự tin tưởng. Việc này không có gì lạ, vì cũng giống như khi đi mua sách, chúng ta đều xem xét nội dung cuốn sách có phù hợp với nhu cầu của mình không, và sau đó là tác giả của cuốn sách là ai, mình có biết và có tin tưởng?

Tiêu chí thứ bảy là việc kiểm tra đánh giá thi cử của bộ SGK sẽ được tiến hành ra sao? Hình thức và nội dung của việc kiểm tra đánh giá học sinh có được thể hiện rõ và có phù hợp với chúng tôi hay không? Nếu không, chúng tôi sẽ xử lý như thế nào.

Tiêu chí thứ tám là các tài liệu đi kèm như sách giáo viên, sách bài tập có phù hợp với bộ SGK và với mong đợi của nhà trường? Nếu không, thì sẽ phải xử lý như thế nào.

Tiêu chí thứ chín là tìm hiểu và cảm nhận xem nhóm tác giả này thực sự làm SGK với tâm huyết và hiểu biết, hay chỉ là một dự án giáo dục cần được giải ngân, hay một dự án kinh doanh của nhà xuất bản. 

Tiêu chí thứ mười là trực giác và cảm quan trực tiếp khi cầm bộ SGK, xem trong số năm bộ SGK hiện hành, thì bộ sách này có đủ hay, đủ đẹp, đủ thuyết phục mình phải lựa chọn hay không? 

Chúng tôi đã chọn SGK năm nay dựa trên mười tiêu chí đó. Tuy không được hoàn hảo như kỳ vọng, nhưng chúng tôi hài lòng với lựa chọn đó.

Những nguyên tắc cơ bản khi biên soạn Sách Giáo Khoa


Những ngày qua, dư luận xã hội lại xôn xao vì một số “sạn” không đáng có trong SGK Lớp 1. Tôi không tham gia biên soạn SGK. Tuy nhiên, qua kinh nghiệm làm chương trình nhà trường và tổ chức biên soạn giáo trình của một số môn học chuyên biệt, tôi có thể hình dung các nguyên tắc cơ bản dùng làm định hướng khi tổ chức biên soạn và thẩm định SGK, như sau:

Nguyên tắc thứ nhất là phải có một tổng công trình sư đủ tài năng, đức độ và tầm vóc để chỉ huy việc làm sách giáo khoa. Nếu không sẽ vỡ trận về nội dung trong từng môn học và trong tất cả các bậc học.
Hiểu nôm na thì người đó sẽ đóng vai trò như nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc, phải lựa chọn nhạc cụ, chỉ huy và giữ nhịp cho cả dàn nhạc. Nếu không sẽ dẫn đến tình trạng có gì dùng nấy kiểu tự phát, như mang đàn bầu và nhị và trong dàn nhạc giao hưởng chẳng hạn.

Nguyên tắc thứ hai là những người làm sách phải xác lập được một triết lý giáo dục tường minh và thuyết phục để dẫn dắt việc tổ chức nội dung, lựa chọn ngữ liệu, thiết kế minh họa, sâu chuỗi logic của các mô-đun trong một môn học, và đồng bộ hóa nội dung của tất cả các môn trong một bậc học, kế thừa và phát triển nội dung trong các bậc học khác nhau, trong sự nhất quán về triết lý và giá trị.

Việc này có thể được thực hiện thông qua việc trả lời thật nghiêm túc và thấu đáo câu hỏi cơ bản: Bộ SGK này sẽ được dùng để đào tạo con người nào?

Chẳng hạn, trong ngôi trường của chúng tôi, triết lý giáo dục được phát biểu ngắn gọn là: Đào tạo con người tự chủ, sống hạnh phúc, làm hiệu quả. Vì vậy, tất cả các thành phần của chương trình giáo dục đều phải hướng đến việc hiện thực hóa triết lý giáo dục này.

Nếu không, các tác giả sẽ không hình dung được bộ SGK do mình viết ra sẽ được sử dụng để đào tạo con người nào, vì thế, sẽ rất dễ rơi vào tự phát và bị giới hạn bởi kinh nghiệm trực tiếp của chính tác giả, tức rất dễ mắc phải các sai lầm không đáng có về ngữ liệu và minh họa, và nghiêm trọng hơn, bộ SGK được viết ra sẽ bị giam hãm bởi quá khứ của chính các tác giả.

Nguyên tắc thứ ba là cần lựa chọn một bộ giá trị cốt lõi làm khung tham chiếu trong suốt quá trình biên soạn sách. Nếu không, sẽ không có đủ cơ sở để đưa ra các lựa chọn và điều chỉnh hầu đạt được mục tiêu của cuốn sách.

Chẳng hạn, bộ giá trị cốt lõi của trường chúng tôi là bốn giá trị Chân – Thiện – Mỹ - Hòa. Mỗi khi phải đưa ra một đánh giá, một lựa chọn, chúng tôi đều phải tham chiếu đến các giá trị này. Nếu nội dung nào không đủ cơ sở khoa học, hoặc có tiềm năng gây hại cho học sinh hoặc môi trường, xã hội là chúng tôi loại bỏ. Đôi khi, chúng tôi cũng phải cắt bỏ hoặc chỉnh sửa ngữ liệu, minh họa vì chúng tuy không sai, nhưng không đủ đẹp.

Nguyên tắc thứ tư là nhóm tác giả phải nhìn vào tương lai để viết SGK, chứ không phải nhìn lại quá khứ và trải nghiệm của nhóm tác giả và chính nền giáo dục. Sách giáo khoa có thể được viết ra bởi những người trên 60 tuổi, nhưng lại là để cho các học sinh 6 tuổi sử dụng khi vào lớp 1. 

Những người 60 tuổi đó thuộc về quá khứ, còn những học sinh 6 tuổi đó thuộc về tương lai. Phải 20-30 năm sau những học sinh 6 tuổi đi học ngày hôm nay mới bước vào đời, gánh vác trách nhiệm của gia đình và xã hội.

Vì thế, khi viết sách cần phải nhìn vào tương lai để viết, với một tầm nhìn tối thiểu là ba mươi năm, ăn khớp với tầm nhìn về phát triển của quốc gia và dự đoán tương lai của thời đại. 

Nếu không, SGK mới được viết ra sẽ na ná như sách cũ, đặc biệt là khi vẫn những con người cũ chủ trì và là lực lực chính để viết sách. Khi đó, sách sẽ bị lạc hậu ngay khi được viết ra.

Nguyên tắc thứ năm là phải bám sát chương trình giáo dục phổ thông mới (chương trình quốc gia) đã được ban hành để viết. Vì SGK viết ra cần phải qua thẩm định, xem có phù hợp với các yêu cầu của chương trình quốc gia không. Nếu không thì sách sẽ không được đưa vào sử dụng, sẽ uổng công cho người biên soạn.

Nguyên tắc thứ sáu là khi tiến hành viết SGK, nhóm tác giả phải trả lời thật rõ ràng, mạch lạc và thuyết phục những câu hỏi liên quan trực tiếp đến giá trị của bộ sách, như: Bộ SGK này mang lại giá trị gì cho người dùng, tức học sinh, giáo viên, phụ huynh và rộng hơn là cả xã hội? Và vì sao người dùng lại chọn các giá trị đó để sử dụng bộ sách?

Nếu không trả lời được rõ ràng và tự tin, có tính thuyết phục về giá trị của bộ SGK mình viết, nhiều khả năng bộ sách sẽ chỉ giống như một dự án giải ngân cho xong, chứ không phải là một sản phẩm giáo dục có chất lượng cao.

Nguyên tắc thứ bẩy là cân bằng hài hòa mối quan tâm của các bên liên quan đến việc biên soạn, quản lý và sử dụng bộ SGK.

Từ phía người viết sách, SGK dùng để cụ thể hóa chương trình giáo dục phổ thông đã được phê duyệt. Vì thế, khi viết sách, các tác giả sẽ phải bám theo chương trình khung này.

Tuy nhiên, từ góc nhìn của nhà giáo dục, SGK là phương tiện chủ đạo để hiện thực hóa câu trả lời cho các câu hỏi cốt yếu trong giáo dục: Bộ SGK này dùng để đào tạo con người nào? Tổ chức nội dung SGK như thế nào cho nhất quán và hướng đích?

Còn từ phía người dùng, tức phụ huynh, học sinh và rộng hơn là xã hội, thì mối quan tâm của họ là bộ SGK này mang lại giá trị gì cho học sinh, có giúp học sinh trang bị các kiến thức và phát triển các kỹ năng cần thiết, có giúp cho con họ trưởng thành, có tạo ra những con người tự lập – tự chủ, những công dân trách nhiệm và đạo đức… hay không?

Nguyên tắc thứ tám là các tác giả phải thấu hiểu người dùng, tức các học sinh, thông qua việc trả lời các câu hỏi rất cụ thể như: Bộ SGK này được viết cho đối tượng nào? Các đặc trưng về tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh là gì? Các kiến thức và kỹ năng mà các em đã có trước đó? Các kiến thức và kỹ năng sẽ được phát triển ở các bậc học kế tiếp? Hoàn cảnh xã hội và đặc điểm vùng miền của học sinh sử dụng sách?

Nếu không trả lời thuyết phục được các câu hỏi này, thì dù sách có hay theo góc nhìn của nhóm tác giả, học sinh và phụ huynh vẫn không chấp nhận.

Nguyên tắc thứ chín là nội dung, bố cục phải nhất quán và tuân thủ một logic tổng thể chung, nội dung của các môn học phải được đồng bộ hóa theo hướng tích hợp liên môn. Nếu không các môn học khác nhau sẽ không hỗ trợ nhau, nhịp đi của các môn học sẽ vênh nhau, làm giảm chất lượng giáo dục khi triển khai đi rất nhiều.

Làm được như thế, mỗi cuốn sách không chỉ là một mạch tri thức cần khám phá, mà cả bộ sách sẽ trở thành một bản giao hưởng nhất quán và hấp dẫn.

Nguyên tắc thứ mười là xác định rõ phương pháp giáo dục chủ đạo của từng môn học và của cả bộ sách, để nội dung của bộ sách tương hợp một cách tự nhiên với phương pháp giáo đã được chọn.

Nếu không sẽ có sự vênh nhau giữa nội dung và phương pháp, dẫn đến gây khó khăn khi triển khai trong thực tế. Trong trường hợp đó, giáo viên sẽ trở lại phương pháp truyền thống là: thầy giảng giải, trò hiểu, trò ghi nhớ, thầy kiểm tra sự hiểu – sự nhớ qua các bài thi, với sản phẩm điển hình là “văn mẫu, toán dạng” định hướng là “học để thi” trong suốt quá trình học.

Nguyên tắc thứ mười một là các nội dung của SGK phải đảm bảo tính khoa học và hướng đến sự thật. Vì sao vậy? Vì khoa học và tri thức chính là đối tượng cần chiếm lĩnh của học sinh, cũng là các hoạt động chính của nhà trường. Văn hóa sẽ là nội dung cần lưu ý tiếp sau khoa học, nhưng chiếm vị trí thứ yếu hơn. Còn tôn giáo và chính trị, tốt nhất là không nên xuất hiện ở trong trường học, nếu đó không phải là một đối tượng của học thuật.

Nguyên tắc thứ mười hai là nội dung của SGK còn phải phù hợp với lẽ thường và các chuẩn mực đạo đức phổ quát, không có các nội dung phân biệt tôn giáo, giới tính và vùng miền, không gián tiếp xúi giục các hành vi phạm pháp... Vì SGK của bậc học phổ thông là dạy những thứ thật phổ thông, trong đó hiểu được lẽ thường, sống theo đạo đức phổ quát và làm việc theo pháp luật là một trong những nội dung quan trọng.

Nguyên tắc thứ mười ba là sách viết ra phải có các yếu tố có tính cách địa phương hóa và cá nhân hóa giáo dục. Tức người viết sách phải hình dung được bộ sách của mình sẽ được dùng ở khu vực nào là chính, và với ngay cả một khu vực đã được xác định như thế, thì các học sinh khác nhau có thể cá nhân hóa việc học của mình như thế nào, và giáo viên có thể tổ chức việc cá nhân hóa giáo dục đó ra sao trên cơ sở nội dung của SGK.

Nguyên tắc thứ mười bốn là SGK phải giúp cho học sinh tự học được. Vì sao vậy? Vì trái tim của việc học là chính là tự học. Nếu SGK mà học sinh cầm lên không thể tự học được, thì đó là mộtthất bại của các tác giả.

Tuy nhiên, các bộ SGK hiện hành, đặc biệt là các bộ SGK từ lớp 2 trở lên, làm cho học sinh không thể tự học. Kiến thức trong sách được chia thành hai phần, như khóa và chìa. Thầy cô nắm chiếc chìa khóa, chỉ khi nào tra chìa vào thì cánh cửa tri thức mới mở ra được. Đó thực sự là một tiếp cận sai lầm khi biên soạn SGK.

Nguyên tắc thứ mười lăm là sách viết ra phải phù hợp với trình độ của giáo viên và phải có sách giáo viên đi kèm. Điều này có nghĩa, các tác giả khi viết sách phải có hình dung rõ ràng và có nguyên tắc với việc giảng dạy sau này, có sự tham gia góp ý và thảo luận của các giáo viên đang đứng lớp. Nếu không, giáo viên sẽ không thể sử dụng SGK một cách đúng đắn và hiệu quả.

Khi đó, giáo viên sẽ rơi vào tình trạng mò mẫm và máy móc khi giảng dạy, và từng bước trượt về cách dạy cũ của bộ SGK cũ, trong sự hoang mang và kém hiệu quả.

Ngoài ra, việc tập huấn giáo viên khi sử dụng SGK mới, đặc biệt là tập huấn về phương pháp giáo dục, là cần thiết.

Nguyên tắc thứ mưới sáu là phải có sự liên hệ chặt chẽ giữa nội dung giáo dục và kiểm tra đánh giá thi cử của học sinh. Nói cách khác, nội dung sách phải đáp ứng được các yêu cầu về kết quả đầu ra đối với học sinh, và SGK phải đi kèm các nội dung và phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh một cách tương ứng.

Kết hợp với nguyên tắc trên, ta thấy nội dung SGK phải đồng hợp với trình độ của giáo viên, khả năng tự học và sự tiếp nhận của học sinh và phương pháp kiểm tra – đánh giá – thi cử, tạo ra một “bộ tứ kim cương” hài hòa và nhất quan.

Nguyên tắc thứ mười bẩy là chi phí của bộ SGK viết ra có phù hợp với xã hội. Một bộ sách tốt, nhưng chi phí lên đến nhiều triệu đồng, như SGK của nước ngoài, thì cũng không phù hợp với điều kinh kinh tế của đa số các gia đình của Việt Nam. Vì thế, số lượng trang sách, màu sắc sử dụng, cũng phải nằm trong những giới hạn được phép để không đội quá chi phí khi in ấn.

Nguyên tắc thứ mười tám là thiết lập nhóm nguyên tắc và tiêu chí riêng cho từng bộ môn trong cả bộ SGK. Chẳng hạn: Với môn Tiếng Việt thì ngữ liệu phải lựa chọn sao cho phù hợp với thứ tự các âm, vần đã học và đáp ứng các tiêu chí riêng của bộ môn này; hoặc với môn Toán, môn Khoa học thì các khái niệm mới phải dựa trên các khái niệm cơ sở trước đó… trong sự tiếp cận liên môn và hỗ trợ lẫn nhau giữa các môn học.

Nguyên tắc thứ mười chín là SGK và giáo dục chỉ là một phần của giáo dục, và giáo dục chỉ là một bộ phận của xã hội và quốc gia. Quốc gia cũng chỉ là một phần của thế giới và thời đại. Vì thế, trong quá trình biên soạn SGK, luôn phải đặt những nội dung của sách trong một không-thời gian rộng lớn hơn của dân tộc và thời đại để SGK có thêm sức sống vì không tự cô lập và giới hạn mình.

Nguyên tắc thứ hai mươi, tạm coi là nguyên tắc cuối cùng cho đỡ phức tạp, là những người biên soạn và thẩm định sách luôn giữ được sự cẩn trọng và khoa học trong suốt quá trình làm SGK, liên tục lắng nghe và hoàn thiện nội dung, với mục tiêu tạo ra một bộ sách tốt nhất cho học sinh sử dụng, trong một hình dung lớn hơn về sự phát triển của quốc gia, chứ không chỉ đơn thuần là tạo ra một bộ SGK đủ vượt qua vòng thẩm định.

Trên đây là phác họa một số nguyên tắc mà người viết bài này rút ra được khi tổ chức làm chương trình và biên soạn giáo trình cho một số môn học riêng của nhà trường. Thiển nghĩ, các nguyên tắc này hoàn toàn có thể áp dụng, hoặc ít nhất là có giá trị tham khảo, cho việc tổ chức làm SGK.

Với SGK lớp 1 năm nay, người ngoài không thể biết được bộ nguyên tắc định hướng cho việc biên soạn và thẩm định SGK là gì. Nhưng có một điều chắc chắn, không định ra các nguyên tắc cơ bản để định hướng và tuân thủ bộ quy trình biên soạn và thẩm định SGK để kiểm soát chất lượng, thì chắc chắn sẽ mắc phải các sai sót không đáng có.

Muốn không lặp lại các sai sót này trong các bộ SGK lớp 2 và lớp 6 năm sau, người tổng chỉ huy nhất thiết phải định ra nguyên tắc cơ bản tương tự như bộ nguyên tắc này, và sử dụng chúng một cách tự nhiên – thành thạo, để định hướng cho việc tổ chức biên soạn và thẩm định SGK. 

Nếu không, các sai sót trong các bộ SGK kế tiếp - hoặc dưới dạng kỹ thuật như ngữ liệu và minh họa không phù hợp, hoặc ở việc không đạt được mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể - là không thể tránh khỏi.

Biên soạn sách giáo khoa cần phải khoa học và nghiêm túc hơn

12/10/2020 06:30 GMT+7

TTO - Trước những ồn ào xung quanh sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, bộ Cánh diều, các bên liên quan cần có những cách giải quyết thỏa đáng với mục tiêu cuối cùng là học sinh có SGK hoàn toàn là tiếng Việt trong sáng, phổ thông và ý nghĩa.



Học sinh lớp 1 học đánh vần tại một trường tiểu học ở TP.HCM - Ảnh: TỰ TRUNG

Năm nay chúng ta có nhiều bộ SGK thay vì chỉ một bộ. Đó là một bước tiến lớn. Về nguyên tắc, nhiều bộ SGK sẽ tốt hơn một bộ SGK. Vì thế không nên vì một số sai sót mà lùi lại với một bộ SGK như trước.

Đó là khẳng định của TS Giáp Văn Dương, chuyên gia giáo dục. Trao đổi với Tuổi Trẻ về hướng xử lý, ông Dương nhận định:

- Theo tôi, với nhóm tác giả, cần tiếp thu các ý kiến, nhận xét của giới chuyên môn và xã hội để sửa chữa những sai sót cho lần tái bản kế tiếp.

Với nhà quản lý, cần đưa ra những hướng dẫn về cách khắc phục sai sót trong sách giáo khoa (SGK) cho các trường, đồng thời tổ chức lấy ý kiến chuyên gia, hoặc thẩm định lại, để giúp các tác giả điều chỉnh nội dung chưa phù hợp của bộ sách.

Còn với nhà trường, cần theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT. Với các trường công thì việc chọn SGK không thể tự quyết được, nên thay đổi SGK không phải là việc dễ, trừ phi có hướng dẫn cụ thể của ngành giáo dục.

Vì thế tôi có thể dự đoán rằng các trường sẽ cứ "dùng dằng mà đi" với bộ SGK đến hết năm học, sau đó sẽ tính tiếp.

* Là người từng học tập, nghiên cứu, giảng dạy ở nước ngoài, ông nhận xét gì về SGK ở các nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển?

- Tôi có trải nghiệm trực tiếp về SGK bậc phổ thông của Anh và Singapore. Hai nước này đều có nhiều bộ SGK cùng lưu hành nhưng cách sử dụng SGK cũng rất khác nhau. Ở Anh, khi con tôi học tiểu học tôi không thấy SGK xuất hiện trong cặp của con, vì các bài học là do thầy cô thiết kế dựa trên chương trình quốc gia và tham khảo các bộ sách hiện hành.

Vì thế học sinh chỉ có phiếu học tập, phiếu bài tập kẹp thành tập, thay vì cả bộ SGK như ở Việt Nam. Tuy nhiên, ở các khối lớp cao hơn thì học sinh có sử dụng SGK, giáo trình. Bậc học càng cao thì SGK, giáo trình ngày càng trở nên quan trọng với học sinh.

Riêng tại Singapore cách dùng SGK khá giống ở Việt Nam. Mỗi học sinh đều có một bộ SGK chính thức. Đây là bộ SGK được nhà trường chọn trong số vài chục bộ được cấp phép lưu hành. Việc viết và phát hành SGK là công việc của các tác giả và các nhà xuất bản.

Bộ Giáo dục Singapore chỉ thẩm định và cấp phép lưu hành có thời hạn cho các bộ SGK.

* Để có những bộ SGK tốt cho học sinh Việt Nam, theo ông, quy trình làm sách nên như thế nào, những ai tham gia?

- Kinh nghiệm cá nhân tôi cho thấy bước đầu tiên và quan trọng nhất khi làm SGK là chọn được một tổng công trình sư có tư tưởng giáo dục rõ ràng và thuyết phục, có đủ tâm huyết với giáo dục, trăn trở với sự phát triển của đất nước, với tương lai của thế hệ trẻ và có đủ năng lực để triển khai công việc làm tổng chỉ huy việc biên soạn SGK.

Tổng công trình sư phải là một nhà giáo dục, thay vì một nhà giáo giỏi. Người đó sẽ đóng vai trò như người thiết kế và đảm bảo chất lượng chung của toàn bộ SGK, liên thông từ lớp 1 đến lớp 12, trong sự đồng bộ của tất cả các môn học khác nhau.

Thực tế cho thấy một nghìn thợ xây giỏi tập hợp lại cũng không thể thiết kế và chỉ huy xây dựng được một tòa nhà hiện đại. Tương tự như vậy, một nghìn nhà giáo giỏi tập hợp lại cũng không thể tạo ra một bộ SGK tốt, nếu không có một tổng công trình sư dẫn dắt.

Nhưng nhà giáo thì rất nhiều, còn nhà giáo dục rất hiếm. Nhà giáo dục tâm huyết với sự phát triển của đất nước, trăn trở với số phận của thế hệ trẻ lại càng hiếm. Đó là cái khó trong việc chọn tổng công trình sư cho việc biên soạn SGK. Tuy khó nhưng không thể không làm, nếu muốn có một bộ SGK tốt.

Sau khi đã chọn được tổng công trình sư, người này tập hợp đội ngũ, xác lập được triết lý giáo dục để làm định hướng, thiết lập bộ giá trị cốt lõi để làm khung tham chiếu, lựa chọn phương pháp giáo dục chủ đạo để truyền tải nội dung và cân bằng mối quan tâm của các bên liên quan đến bộ sách như giáo viên - học sinh, phụ huynh, nhà xuất bản, nhà quản lý, đặt trong một tầm nhìn khoảng 30 năm về sự phát triển của quốc gia và của thời đại.

Người tổng công trình sư này cũng đồng thời là người đào tạo và truyền cảm hứng cho toàn bộ nhóm viết SGK, sao cho tất cả các thành viên thấm nhuần tư tưởng và định hướng giáo dục của mình và của chương trình quốc gia, kiểm tra và giám sát tổng thể quá trình biên soạn sách, sao cho đảm bảo được chất lượng của bộ SGK, không chỉ theo yêu cầu của chương trình quốc gia mà còn hiện thực hóa được tư tưởng giáo dục của nhóm tác giả và đặc trưng riêng của từng môn học.

Đó là bước đầu tiên, cũng là bước quan trọng nhất, trong quy trình biên soạn ra một bộ SGK có chất lượng.


Giáo viên khối lớp 1 cùng ban giám hiệu Trường tiểu học Kỳ Đồng, Q.3, TP.HCM thảo luận cho SGK mới - Ảnh: NHƯ HÙNG

* Bộ GD-ĐT đang tiến hành làm SGK lớp 2 trở lên. Theo ông, bài học kinh nghiệm gì cần rút ra từ sự cố SGK tiếng Việt lớp 1, bộ Cánh diều?

- Với Bộ GD-ĐT, bài học quan trọng nhất là thẩm định SGK cần phải làm bài bản, khoa học và minh bạch hơn. Cụ thể, bản thảo của các bộ SGK cần được công bố rộng rãi để lấy ý kiến góp ý, bên cạnh phần góp ý của hội đồng thẩm định.

Với bộ SGK năm nay, bản thảo được bảo mật nên ngoài các tác giả và hội đồng thẩm định thì không ai biết nội dung SGK thế nào. Đến khi in ấn xong rồi, SGK cũng không được phát hành sớm tại nhà sách như các năm trước nên phụ huynh muốn mua cũng không được. Các chuyên gia cũng phải rất khó khăn mới có được sách biếu tặng để tham khảo và lựa chọn.

Có lẽ là vì các bộ SGK lớp 1 năm nay phải cạnh tranh nhau nên nội dung cần bảo mật? Nếu đúng vậy thì đây là một chi tiết rất dở, cần khắc phục bằng cách Bộ GD-ĐT chỉ đạo tất cả các bộ SGK cần công bố cùng một ngày để đảm bảo công bằng và lấy ý kiến nhận xét của giới chuyên môn và xã hội.

Còn về phía các tác giả, tôi cho rằng quy trình tổ chức biên soạn SGK cần phải khoa học và nghiêm túc hơn nữa. Nếu không, những sai sót đáng tiếc là không tránh khỏi.

Giúp trẻ hình thành tư duy phản biện

Với phụ huynh, nếu những người có điều kiện và đủ năng lực dạy con có thể mua thêm một bộ SGK khác để cho con tham khảo thêm, hầu chỉ ra cho con thấy: "À, cùng một nội dung mà có nhiều cách viết khác nhau".

Khi đó các sai lầm của một bộ SGK nào đó sẽ được pha loãng, đồng thời giúp trẻ hình thành tư duy phản biện khi tham chiếu nhiều bộ SGK khác nhau.

TS GIÁP VĂN DƯƠNG
---
Nguồn: Tuổi trẻ

Nỗi niềm sách giáo khoa

 Thứ tư, 26/9/2018, 01:34 (GMT+125

Cách đây hơn mười năm, khi học ở Anh, con gái tôi không bao giờ mang sách vở khi đến trường và về nhà. Thay vào đó, chỉ là vài phiếu học tập để làm thêm cho vui. Cặp sách cũng rất nhẹ, chỉ giống một cái ví lớn, chứ không phải là cặp da hay ba lô nặng trịch.

Trong suốt mấy năm con học tiểu học, tôi không nhìn thấy sách giáo khoa của con bao giờ. Hỏi ra, sách giáo khoa thì vẫn có, nhưng hầu như các thầy cô đều không dùng toàn bộ và trực tiếp sách giáo khoa để dạy như ở Việt Nam. Sách giáo khoa sẽ giống sách tham khảo hơn. Giáo viên tự xây dựng nội dung môn học, và nội dung từng bài học, căn cứ trên khung chương trình quốc gia, sử dụng tư liệu tham khảo từ nhiều nguồn.

Khi chúng tôi chuyển về Singapore, môi trường học tập giống Việt Nam hơn, trong đó có sự xuất hiện của sách giáo khoa trong cặp của con. Nhưng Singapore không chỉ có một bộ sách giáo khoa, mà có nhiều bộ sách khác nhau, hàng năm được Bộ giáo dục phê duyệt và công bố. Các trường tự lựa chọn bộ sách phù hợp với mình tùy theo mục tiêu và quan điểm giáo dục.

Chuyện cứ thế êm ả trôi đi nếu chúng tôi không trở về. Con tôi phải làm quen với cách học mới, và đánh vật với sách giáo khoa mới, ở mấy điểm mà tôi có giải thích thế nào con cũng không thể chấp nhận được.

Đâu tiên, không hiểu vì sao sách giáo khoa của Việt Nam mình lại xấu và trình bày ẩu cả nội dung lẫn minh họa như vậy. Chỉ nhìn sách đã không muốn học. Cô con gái nhỏ nhiều lần bức bối đến mức bật khóc. Tôi cố gắng giải thích nhưng vô nghĩa. Sách xấu là xấu. Không muốn học là không muốn học. Giải thích vòng vo kiểu gì trẻ con cũng không tin. Mà trẻ con thì rất tinh. Không thể đánh lừa bằng những mỹ từ cao siêu được.

Điều thứ hai, là dù rất cố gắng, con tôi cũng không thể tự học như trước khi dùng sách giáo khoa. Đây là điều nhức nhối không phải với con, mà còn với chính tôi. Để làm quen với môi trường mới, chúng tôi chủ trương cho con học tại gia một thời gian. Mà khi học tại gia thì cháu phải tự học rất nhiều, vì bố mẹ còn vướng bận bao nhiêu việc. Nếu là sách của nước ngoài, thì khi mở sách ra, con có thể tự học. Việc học tại gia ở nước ngoài vì thế có thể tiến hành dễ dàng, nhưng ở Việt Nam thì không thể.

Khi xem xét thật kỹ sách giáo khoa hiện hành, tôi phải thừa nhận con nói đúng. So với thế hệ chúng tôi, bộ sách giáo khoa hiện hành là một bước lùi lớn trong việc khuyến khích tinh thần tự học.

Trước đây, khi vừa kết thúc năm học, chúng tôi thường đi mượn hoặc mua lại sách giáo khoa của các anh chị khóa trước. Và sau khi đã có bộ sách, có thể bìa đã rách và rất lem nhem, việc đầu tiên chúng tôi thường làm là mở ra để xem sách của năm sau viết gì. Rất thường xuyên, tôi sẽ tự học luôn một số phần hấp dẫn. Mà không chỉ tôi, sau này gặp gỡ nhiều, tôi biết rất nhiều người cùng thế hệ cũng đã tự học trước như thế. Cá biệt, có người tự học môn mình yêu thích trước hai, ba năm.

Nhưng đó là sách giáo khoa của ngày xưa. Tôi cố suy nghĩ vì sao lại có một bước lùi lớn như vậy trong việc tự học thì không tìm ra lý do sư phạm nào thuyết phục. Cuối cùng, tôi đành kết luận rằng, sách giáo khoa của chúng ta đã thoái hóa nghiêm trọng, đến mức làm cho học sinh không thể tự học.

Những ai cảm thấy không tin, hãy mở sách giáo khoa của con mình ra và thử tự học, họ sẽ lúng túng vô cùng. Nhiều khi không biết bắt đầu từ đâu. Nhìn thấy cửa, mà không thấy chìa khóa ở chỗ nào, chưa kể không có hướng dẫn gì cụ thể cho việc khám phá. Chiếc chìa khóa đã được để ở một nơi khác, trong giáo án hoặc sách giáo viên, chứ không phải ở ngay trong sách giáo khoa.

Nói cách khác, những tri thức cần chiếm lĩnh đã được phân chia thành những phần khác nhau, nằm rải rác ở nhiều chỗ khác nhau, chứ không phải chỉ ở trong sách giáo khoa để học sinh có thể tự học. Nghe như trò đánh đố, nhưng sự thật là như thế.

Một sản phẩm làm ra là để người mua sử dụng được. Nhưng với sách giáo khoa thì không. Hãy tưởng tượng, nếu bạn mua một món đồ mà sau đó bạn không thể sử dụng được thì bạn phát rồ đến mức nào. Bạn sẽ trả lại và không bao giờ mua lại món đồ đó. Bạn cũng có thể gặp hiệp hội người tiêu dùng để phản ánh, hoặc lên mạng để than thở, tẩy chay. Nhưng với sách giáo khoa thì không thể. Bạn không có lựa chọn nào khác. Mua về không tự sử dụng được cũng phải cam chịu. Sách giáo khoa đã bị làm cho thần bí và trở thành khác biệt so với các cuốn sách thông thường.

Khi đó, bạn chỉ có thể kiên nhẫn chờ người khác hướng dẫn và ngoan ngoãn làm theo từng bước một. Cánh cửa tự học đã bị khóa chặt. Chìa khóa tự học của học trò thì nằm trong tay thầy cô. Còn chìa khóa tự dạy của thầy cô nằm trong tay cơ quan quản lý. Còn chìa khóa của cơ quan quản lý thì nằm ở cơ quan quản lý cao hơn. Chiếc chìa khóa cuối cùng nằm ở đâu không ai biết, không ai dám hỏi. Hoặc không hề có chìa khóa được thiết kế ra. Người ta chỉ thấy lớp lớp học sinh đi học thêm buổi tối và cuối tuần, mà không mấy khi thấy chúng tự học.

Dù ta đã khản cổ kêu gọi thầy cô yêu nghề, học sinh cần tự học, nhưng kết quả chỉ là sự đối phó. Văn hóa đọc, văn hóa học có kêu gọi mấy cũng không phát triển. Học sinh không còn thời gian để đọc và cũng không có cơ hội sử dụng những điều đã đọc được vào học tập và thi cử chính khóa.

Một số người cố sức để mở cánh cửa tự học đó ra thì thấy những nội dung ở bên trong cũ kỹ và chán không thể tả. Chán đến mức chỉ muốn đóng lại ngay tức khắc. Học sinh giờ đây phải học chỉ vì phải thi. Thi xong là quên hết, quên thật nhanh để học một thứ khác, cũng nhàm chán và mệt mỏi y như thế, để rồi lại thi và tiếp tục quên đi. Đến khi hết đại học, họ mới bàng hoàng nhìn ra mình chẳng học được gì đáng kể. Khủng hoảng, hoang mang, chạy chọt bước vào đời.

Hẳn những ai đã làm công việc tuyển dụng nhân sự rồi mới thấy, để tuyển được một người trung thực và biết việc bây giờ là sự nỗ lực không nhỏ của phòng nhân sự. Tuyển được người biết việc, lại có khả năng viết được một trang văn bản dài mạch lạc rõ ràng, không sai chính tả thì đúng là cần phải ăn mừng. Cho dù, tất cả các ứng viên đều có bằng đại học.

Trở lại câu chuyện của con tôi, đó là một mong ước vô cùng giản dị: Làm sao để có được một bộ sách giáo khoa không chỉ đúng và đẹp, mà quan trọng hơn là còn có thể dùng để tự học. Chỉ khi tự học thì người ta mới thực học. Còn không, đó chỉ là một sự đối phó. Tạo ra những lớp người chỉ biết đối phó cho xong ngay từ nhỏ là lỗi của ngành giáo dục, trong đó có lỗi của bộ sách giáo khoa hiện hành.

Nhưng làm sao có được những bộ sách giáo khoa như thế, làm sao để một chuyện đương nhiên trở thành sự thật? Câu trả lời, về nguyên tắc, không đến từ một sự hô hào, mà từ quyền được lựa chọn của người dùng. Chỉ khi nào có nhiều bộ sách giáo khoa cùng lưu hành để người dùng lựa chọn, thì tình trạng sách vừa xấu, vừa ẩu, vừa không thể dùng để tự học mới có thể chấm dứt.

Giáp Văn Dương

---

Nguồn: Vnexpress ngày Thứ tư, 26/9/2018, 01:34 (GMT+7) 125