Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2010

Hạ tầng quốc gia: Khái niệm, cấu trúc và cách xây dựng

(12:08:44 Ngày 25/05/2010)
Đó là chủ đề tọa đàm khoa học thường kỳ do Nhà xuất bản Tri thức và Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức chiều ngày 21/05/2010.

Diễn giả của tọa đàm TS Hóa học Giáp Văn Dương đã giới thiệu một khái niệm mới - Hạ tầng quốc gia, thông qua việc tích hợp tất cả những yếu tố mang tính nền tảng, quyết định sự ổn định và phát triển của một đất nước. Cấu trúc của Hạ tầng quốc gia, bao gồm: Hạ tầng mềm (Hạ tầng tư duy và Hạ tầng tổ chức), Hạ tầng cứng (Hạ tầng tự nhiên và Hạ tầng nhân tạo) và Hạ tầng con người (Hạ tầng công dân và Hạ tầng nhân lực dẫn dắt).
Theo ông Dương, một đất nước muốn phát triển phải có Hạ tầng quốc gia vững chắc, toàn diện, lành mạnh làm nền tảng. Hạ tầng quốc gia bao hàm tất cả những yếu tố cần thiết cho sự phát triển của đất nước, trong đó con người, cách tổ chức xã hội, nền tảng tư duy của cá nhân và cộng đồng… có vai trò quyết định.
Vì đây là khái niệm mới và theo diễn giả là do ông tự đúc kết, xây dựng nên TS Dương đã nhận được nhiều câu hỏi tranh luận của các đại biểu tham dự tọa đàm. Từ Hạ tầng quốc gia, những thảo luận lại mở rộng ra chủ đề về mối quan hệ giữa dân chủ và trí thức. TS Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, đề xuất sắp tới sẽ tổ chức một loạt tọa đàm liên quan đến chủ đề này.

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2009

Không nên loay hoay tìm triết lý giáo dục


Chủ Nhật, 13/12/2009, 08:40

TS Giáp Văn Dương:

Không nên loay hoay tìm triết lý giáo dục

TP - Triết lý giáo dục là một vấn đề gây bàn cãi vài ba năm gần đây và sẽ còn tiếp tục gây tranh cãi khi câu hỏi “Triết lý giáo dục của Việt Nam là gì?” chưa có lời đáp.

Trao đổi với PV Tiền Phong, Tiến sĩ Giáp Văn Dương (ĐH Liverpool, Anh) cho rằng, thay vì đi tìm triết lý giáo dục, Việt Nam nên xây dựng những định hướng lớn để phát triển giáo dục.

TS Giáp Văn Dương cùng vợ và con gái. Ảnh do nhân vật cung cấp

TS Giáp Văn Dương nhận xét: Theo tôi, cho đến giờ chưa có đánh giá nào khách quan, chính xác với hệ thống giáo dục Việt Nam. Tất cả những đánh giá giáo dục cho đến thời điểm này vẫn chưa đủ định lượng để là một đánh giá hệ thống giáo dục một cách khoa học, có thể dùng làm cơ sở để điều chỉnh hệ thống giáo dục.

Nhìn nhận một cách công bằng thì hệ thống giáo dục của chúng ta cũng đã trang bị được cho học sinh một số kĩ năng và tri thức nhất định. Cụ thể là kiến thức cơ bản của học sinh Việt Nam khá vững vàng so với học sinh nước ngoài. Nhưng những phẩm chất quan trọng nhất mà một nền giáo dục hiện đại cần trang bị cho học sinh như tính sáng tạo, tư duy độc lập, tư duy cải tiến, tư duy phê phán thì hệ thống của chúng ta chưa làm được.

Cái bẫy ngôn ngữ

Để khắc phục những yếu kém trong hệ thống giáo dục thì việc tìm ra nguyên nhân cốt lõi là cần thiết. Nhưng, trong việc này, các chuyên gia cũng chưa thống nhất với nhau và chưa đi đúng hướng.

Lâu nay người ta thường cho rằng giáo dục Việt Nam thất bại vì không có một triết lý giáo dục đúng dẫn dắt. Theo họ, bước đầu tiên để cải cách giáo dục thành công là đi tìm một triết lý giáo dục thích hợp.

TS Giáp Văn Dương tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội ngành Hóa Dầu năm 1999, Thạc sĩ Đại học Quốc gia Chonbuk (Hàn Quốc) ngành Công nghệ Hóa học năm 2002, Tiến sĩ Đại học Công nghệ Vienna ngành Vật lý kĩ thuật (Áo) năm 2006, hiện làm việc tại Đại học Liverpool, Anh.
Ban đầu tôi cũng cho rằng sở dĩ Việt Nam thất bại trong cải cách giáo dục là vì không có một triết lý giáo dục đúng dẫn dắt. Nhưng sau nhiều năm tìm kiếm triết lý giáo dục vẫn không thấy, tôi bắt đầu đặt câu hỏi: “Có nên tiếp tục bỏ thời gian và công sức đi tìm triết lý giáo dục nữa hay không, và nếu tìm thấy thì chuyện gì sẽ xảy ra?”. Câu trả lời là không, vì sẽ không bao giờ những người làm giáo dục thống nhất được với nhau một triết lý cụ thể nào đó. Triết lý giáo dục sẽ trở thành một bẫy ngôn ngữ mà không cẩn thận chúng ta sẽ sa vào và không thoát ra được.

Ngay cả trong trường hợp chúng ta tìm thấy một thứ tạm coi là triết lý giáo dục thì khi đó cả hệ thống sẽ gắn chặt vào một quan điểm giáo dục cụ thể và trở lên cứng nhắc, không đủ linh động để đáp ứng sự phát triển không ngừng của xã hội. Hơn nữa, nếu triết lý giáo dục áp dụng đồng loạt cho cả nước thì chúng ta sẽ tạo ra nhiều thế hệ giống hệt nhau, làm thui chột sự đa dạng và không có lợi cho phát triển.

Thay vào đó, chúng ta nên xây dựng những định hướng lớn, đưa nền giáo dục vào những đại lộ để phát triển. Theo tôi, có năm định hướng lớn mà hệ thống giáo dục nên hướng tới. Đó là: Mở, Sáng tạo, Toàn diện, Hiện đại và Hội nhập.

Mở: Mở cả về cơ cấu lẫn cơ chế, mở về cả chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy để cái mới lúc nào cũng có điều kiện tham gia vào lĩnh vực giáo dục. Ví dụ mở về chương trình thì sẽ có nhiều bộ sách giáo khoa thay vì một bộ, mở về cơ chế thì sẽ tạo sự liên thông giữa trường, viện và doanh nghiệp.

Sáng tạo: Nền giáo dục phải tập trung phát huy khả năng sáng tạo của những người tham gia hoạt động dạy và học. Trong thời đại toàn cầu hóa, sáng tạo là yếu tố duy nhất để khẳng định sự thành công. Nền giáo dục phải hướng tới mục tiêu là tạo ra những con người có khả năng sáng tạo.

Toàn diện: giáo dục toàn diện cho học sinh, không phải chỉ để trang bị kiến thức cụ thể mà còn dạy cả cách ứng xử với bản thân mình, với gia đình, với thầy cô bạn bè, với xã hội, với thiên nhiên, với môi trường.

Hiện đại: nền giáo dục phải cung cấp những tri thức, kỹ năng hiện đại sao cho học sinh, sinh viên có thể hội nhập được ngay với đời sống bên ngoài. Thời gian đi học trong nhà trường phải được coi là bản thân cuộc sống chứ không phải là giai đoạn chuẩn bị cho cuộc sống.

Hội nhập: nền giáo dục phải hướng đến những tiêu chuẩn và nội dung mà cả thế giới đang tuân theo. Ta không nên dạy một thứ hoàn toàn khác biệt so với bên ngoài, và dùng những tiêu chuẩn khác biệt với bên ngoài để đánh giá kết quả giáo dục.

Những định hướng này sẽ là nền tảng để chúng ta tiếp tục xây dựng và cải thiện hệ thống, chương trình, cách thức giáo dục và tạo điều kiện cho cải cách giáo dục thành công. Chẳng hạn, vì không có định hướng sáng tạo nên dù đã có chủ trương lấy học sinh làm trung tâm nhưng trên thực tế của hoạt động dạy học, giáo viên vẫn là trung tâm, thầy đọc trò chép. Cho dù có trang thiết bị hiện đại như dùng máy chiếu thì sẽ chuyển sang chiếu – chép.

Câu chuyện về sáng tạo

Nếu có định hướng sáng tạo thì...

Toàn bộ hoạt động giáo dục sẽ hướng tới việc phát huy tối đa khả năng sáng tạo cả người học và người dạy. Cách giảng dạy của giáo viên sẽ thực sự lấy học sinh làm trung tâm, khuyến khích trao đổi thảo luận, tìm tòi, khuyến khích hoạt động nghiên cứu ngay trong bậc học phổ thông.

Chẳng hạn, con gái tôi đang là học sinh lớp 4 ở Anh nhưng cháu đã tham gia nghiên cứu về chó. Yêu cầu rất đơn giản: Em đã từng thấy những loại chó nào và hãy phân loại dựa trên đặc điểm của chúng (tai to/nhỏ, mõm ngắn/dài... ra sao) nhưng lại giúp phát triển khả năng quan sát và sáng tạo của trẻ rất nhiều.

Nhưng ở ta học sinh không có thời gian để làm được những việc kiểu nghiên cứu những con chó xung quanh em như thế...

Bởi vì chúng ta không có định hướng sáng tạo. Chương trình của chúng ta quá nặng, tiêu tốn quá nhiều thời gian của học sinh. Có những môn không cần thiết thì phải dạy, phải học quá nhiều. Những môn thực sự cần cho học sinh, sinh viên thì được quan tâm một cách sơ sài.

Như nước Anh chẳng hạn, với học sinh tiểu học, người ta tập trung phát triển những kỹ năng rất cơ bản: đọc thông viết thạo, làm thành thục bốn phép tính cộng trừ nhân chia. Còn Việt Nam đặt nặng nhiều thứ phụ trợ, dạy cho học sinh những kiến thức khoa học khá cao: sấm sét, các hiện tượng tự nhiên… Các bậc học tiếp theo cũng có quá nhiều môn học thừa, hoặc chương trình nặng nề không cần thiết.

Nếu giao cho học sinh một bài tập nghiên cứu nho nhỏ, điều gì để đảm bảo bài nghiên cứu đó không phải do bố mẹ làm hộ, giống như tình trạng bài tập môn thủ công ở ta trong thời gian qua?

Đúng là khó bởi chúng ta đang chạy theo thành tích, cả thầy, cả trò, cả phụ huynh. Định hướng của chúng ta là thành tích trên giấy tờ, trên bảng điểm càng cao càng tốt mà không cần biết thành tích ấy từ đâu đến. Nếu định hướng là sự sáng tạo thì lúc đó người ta không đánh giá học sinh này có được điểm cao hay không mà đánh giá học sinh có sáng tạo hay không!

Ngoài việc thiếu những định hướng lớn dẫn dắt, theo ông, còn có nguyên nhân nào khiến hệ thống giáo dục của chúng ta yếu kém?

Đó là hệ thống quản lý còn bất hợp lý. Ví dụ như cơ chế bộ chủ quản quản lý các trường đại học là bất hợp lý. Bộ không thể nào nắm hết được các hoạt động của nhà trường thì làm sao có thể quản lý? Bộ chỉ nên kiểm tra và đánh giá. Tốt nhất nên để các trường tự chủ hoàn toàn và chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình mà không cần có bộ chủ quản.

Sự bất hợp lý khiến chúng ta có nhiều động tác thừa. Một cán bộ của một trường đại học muốn đi tu nghiệp ở nước ngoài phải qua rất nhiều đơn vị xét duyệt. Mỗi khi phải gia hạn thời gian học tập, qui trình này được lặp lại một cách không cần thiết và tiêu tốn thời gian, sức lực của rất nhiều người.

Nên học tập mô hình phân luồng ở châu Âu

Giả sử chúng ta đã có những định hướng tốt. Nhưng cái sau đó chúng ta cần là một mô hình giáo dục. Vấn đề này hiện nay cũng đang là một tranh cãi...

Theo tôi, Việt Nam nên tự xây dựng một mô hình trên cơ sở những định hướng lớn mà mình đặt ra và có tham khảo mô hình giáo dục nước ngoài. Về giáo dục đại học thì đại học Mỹ là một mô hình đáng được tham khảo vì họ rất xem trọng nghiên cứu. Giáo dục phổ thông thì có thể tham khảo một số nước châu Âu như của Anh, Đức, Áo, Phần Lan.

Đặc biệt việc phân luồng của giáo dục phổ thông châu Âu là cái mình nên học tập. Như Áo chẳng hạn, họ phân luồng từ đầu cấp THCS. Học sinh khi bắt đầu vào THCS là đã tự chọn cho mình hướng đi, sau này học tiếp THPT để vào đại học hay đi học nghề. Với những học sinh chọn cho mình hướng học nghề, sau khi học xong THCS họ sẽ đi học nghề hai năm rồi đi làm.

Ở Anh thì rẽ nhánh muộn hơn một chút – hết lớp cấp II. Việc phân luồng tốt sẽ giảm tải cho đại học, vừa tiết kiệm chi phí cho xã hội, tạo ra một lượng công nhân kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển của nền sản xuất.

Các nước đó có mục tiêu phổ cập trung học không?

Mục tiêu của họ là phổ cập hết lớp 9.

Trong khi đó một số địa phương của Việt Nam lại đặt mục tiêu phổ cập trung học...

Đó là sự lãng phí, nhất là trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay.

Chẳng hạn ở Hà Nội, hầu hết học sinh tốt nghiệp khi tốt nghiệp THCS đều theo học tiếp THPT...

Tại vì chúng ta làm phân luồng kém nên tất cả học sinh chỉ đi vào một con đường. Việc phân luồng kém có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân rất dễ nhìn thấy ở ta hiện nay là chất lượng hệ thống dạy nghề kém, không đủ hấp dẫn với các em học sinh.

Thật ra phân luồng không có nghĩa là chặn lại ước mơ vào đại học của những học sinh sớm rẽ vào nhánh học nghề. Hệ thống giáo dục phải đảm bảo sự liên thông và mở để bất kỳ khi nào muốn người ta cũng có thể quay trở lại với việc học đại học.

Dư luận hay nói đến sự lãng phí tiền bạc từ tình trạng thừa thầy thiếu thợ. Nhưng có một sự lãng phí còn lớn hơn tiền bạc là thời gian. Bạn mất rất nhiều thời gian học đại học nhưng rốt cục lại làm một công việc chỉ cần đào tạo về nghiệp vụ từ sáu tháng đến một năm. Như vậy bạn phí mất ba năm tuổi trẻ. Một người lãng phí ba năm cả nước sẽ lãng phí bao nhiêu năm từ thế hệ này sang thế hệ khác, đó là lãng phí lớn và là điều cần phải tính đến.

Về nguyên nhân của phân luồng kém, ngoài vấn đề chất lượng của hệ thống dạy nghề chưa tương xứng và tâm lý trọng bằng cấp, còn có việc sử dụng lao động của nhà nước.

Điều này lại xuất phát từ một lý do khác: cơ cấu của nền kinh tế và qui trình bổ nhiệm cán bộ bất hợp lý. Trong nền kinh tế chúng ta hiện nay, sở hữu nhà nước vẫn nắm quá nhiều, khu vực hành chính sự nghiệp, dịch vụ công quá cồng kềnh. Do đó những người có bằng cấp tuy không giỏi nhưng họ vẫn vào được thị trường lao động do nhà nước quản lý bằng cách này cách khác.

Vì thế, một số lớn lao động không cạnh tranh bằng năng lực mà cạnh tranh bằng bằng cấp. Bằng cấp, thậm chí là cả bằng giả vẫn có đất dụng võ, hệ quả là cả xã hội chạy theo bằng cấp, nên học sinh, dưới sức ép của gia đình, luôn tìm cách học lên cao để lấy bằng cấp thay vì tìm học một nghề có thể nuôi sống mình.

Cảm ơn ông.

Quý Hiên

Ý kiến của bạn về vấn đề này ?


Copyright (C) 2005 Tien Phong Online

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

Cần có hạ tầng tư duy và hạ tầng mềm ở Việt Nam


Thứ Bảy, 05/12/2009, 08:16

TS Giáp Văn Dương:

Cần có hạ tầng tư duy và hạ tầng mềm ở Việt Nam

TP - Theo TS Giáp Văn Dương, diễn giả của buổi thuyết trình chủ đề “Hạ tầng mềm & Việt Nam - Những bài toán lớn” (NXB Tri thức và Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh tổ chức tại Hà Nội, 4-12), Việt Nam mới chỉ chú trọng xây dựng hạ tầng kinh tế mà bỏ qua điều kiện quan trọng để phát triển đất nước là hạ tầng tư duy, hạ tầng tổ chức và hạ tầng mềm.

Tại hội thảo, TS Giáp Văn Dương (nghiên cứu sau Tiến sĩ tại ĐH Liverpool, Anh) đưa ra những khái niệm được các chuyên gia nhận xét là mới, trong đó có thuật ngữ hạ tầng mềm.

Theo TS Giáp Văn Dương, hạ tầng mềm bao gồm hạ tầng tư duy và hạ tầng tổ chức. Hạ tầng tư duy là toàn bộ những gì góp phần khai mở, hỗ trợ, giải phóng và phát huy khả năng tư duy của cá nhân và cộng đồng.

Hạ tầng tổ chức là cách sắp xếp, tổ chức xã hội ở cấp độ cơ bản nhất sao cho phát huy tối đa tiềm năng các nguồn lực xã hội nhằm xây dựng một xã hội gắn kết, lành mạnh và bền vững trước những đe dọa từ cả bên trong lẫn bên ngoài.

TS Giáp Văn Dương chia sẻ: “Nếu hạ tầng tư duy manh mún, nghèo nàn và xập xệ, đất nước sẽ chỉ mãi quẩn quanh trong vòng nghèo và lạc hậu.

Thiếu hạ tầng tư duy sẽ đẻ ra các kiểu tư duy kì quặc: tư duy nhiệm kì, tư duy đối phó, tư duy bằng cấp, tư duy cục bộ… và thiếu các kiểu tư duy tích cực, tư duy phê phán, tư duy hệ thống.v.v...

Đất nước chỉ trưởng thành khi có tư duy độc lập, phong phú và sáng tạo. Muốn vậy, phải có một hạ tầng tư duy vững chắc, lành mạnh, cởi mở và thông thoáng làm nền tảng”.

Theo TS Giáp Văn Dương, thời gian qua, để phát triển kinh tế, chúng ta mới chỉ tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế mà bỏ qua việc xây dựng hạ tầng tư duy.

Về hạ tầng tổ chức, TS Giáp Văn Dương cho rằng xã hội chúng ta đang tồn tại những vùng chồng lấn do khiếm khuyết về hạ tầng tổ chức. Chẳng hạn, trong mối quan hệ nhà nước - thị trường, lẽ ra nhà nước điều tiết thị trường thì trên thực tế nhà nước lại làm kinh tế; v.v.

Theo TS Giáp Văn Dương, nếu không có hạ tầng mềm, xã hội không vận hành được. Giống như một cỗ máy vi tính, nếu không có phần mềm để vận hành thì cỗ máy đó trở thành vô dụng.

12 bài toán lớn và giải pháp mô hình bánh lái

Theo TS Giáp Văn Dương, 12 bài toán lớn mà Việt Nam đối mặt hiện nay gồm khủng hoảng kinh tế; sự lúng túng trong điều hành của Chính phủ; cải cách hành chính lúng túng khiến hành chính trở thành gông cùm của sự phát triển; chống tham nhũng là câu chuyện dài chưa có hồi kết; quy hoạch đô thị áp đặt, nóng vội, thiếu tầm nhìn tổng thể; khai thác tài nguyên ồ ạt, vô tội vạ, chạy theo lợi nhuận trước mắt, thiếu quy hoạch dài hạn, không xét đầy đủ đến hiệu quả kinh tế - văn hoá - môi trường; ô nhiễm môi trường; thiếu hụt năng lượng; bản sắc văn hoá đứng trước nguy cơ bị xâm hại; nhiều tham vọng trong cải cách giáo dục nhưng không có giải pháp mới, tổng thể, đột phá; chịu sự đe dọa lớn bởi biến đổi khí hậu toàn cầu; tranh chấp biển Đông.

Để giải quyết các bài toán lớn này, TS định ra 5 nhóm giải pháp chiến lược xếp đặt theo mô hình bánh lái gồm:

Điều hành của chính phủ, đóng vai trò trung tâm, cần phải thay đổi (lắng nghe giới chuyên gia; nâng cao năng lực lãnh đạo, sử dụng hài hòa tầng kĩ trị và quản trị để điều hành đất nước; điều hành trên cơ sở luật pháp thay vì mệnh lệnh hành chính áp đặt; xây dựng kế hoạch, chính sách trên cơ sở khoa học; tạo lập cơ chế phản ứng nhanh, chính xác, khoa học).

Điều chỉnh và hoàn thiện các nền tảng mềm, loại bỏ các rào cản mềm (Đơn giản thủ tục hành chính; hoàn thiện hành lang pháp lý; Nâng cao tính minh bạch của hệ thống; chống tham nhũng hiệu quả).

Điều chỉnh chính sách kinh tế, năng lượng, tài nguyên, môi trường và qui hoạch đô thị theo hướng phát triển bền vững (Kinh tế: Hệ thống ngân hàng, tập đoàn, tổng công ty; Năng lượng: qui hoạch an toàn năng lượng quốc gia; Tài nguyên, môi trường, qui hoạch đô thị: tổng thể, dài hạn, dựa trên cơ sở khoa học, loại bỏ lợi ích nhóm).

Đổi mới giáo dục và khoa học công nghệ (Đầu tư cho GD, KH & CN là đầu tư cho hạ tầng quốc gia; Kế hoạch, chỉ tiêu cần phải khoa học, thực tế; Thay đổi các nguyên lý GD nền tảng & định hướng lại nền GD; Cải cách tổng thể, tránh vụn vặt).

Chủ quyền biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ (Đối ngoại khôn ngoan; Cân bằng sức mạnh; Hợp tác khu vực; Quốc tế hóa tranh chấp, khu biệt hóa vấn đề cần giải quyết; Đồng thuận về dư luận, tạo cân bằng nội tại).

Việc điều chỉnh linh hoạt, liên tục, đồng bộ, dễ trước khó sau trên cơ sở phản ứng nhanh, dự báo khoa học và tầm nhìn dài hạn năm nhóm giải pháp này như điều khiển bánh lái con tàu sẽ giúp Việt Nam vượt qua những thách thức lớn trên đường phát triển.

Quý Hiên


Copyright (C) 2005 Tien Phong Online

Việt Nam và 12 bài toán lớn

05-12-2009

Đó là nội dung buổi thuyết trình và tọa đàm của TS Giáp Văn Dương (Đại học Liverpool, Anh) diễn ra chiều qua (04.12.2009) tại 53 Nguyễn Du, do Nhà xuất bản Tri thức và Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức.



Đến dự có các GS Chu Hảo, Hoàng Ngọc Hiến, Phan Văn Các, TS. Nguyễn Quang A; các nhà văn Nguyên Ngọc, Vũ Ngọc Tiến; học giả Nguyễn Khắc Mai, nhà kinh tế học Phạm Chi Lan, nhà báo Nhật Hoa Khanh, cụ Lê Hồng Hà, ông Trần Đức Nguyên … và đông đảo các bạn trẻ đến từ các học viện, đại học, viện nghiên cứu. Tôi trông cảnh tượng này, cứ như mình lạc vào Ban Nghiên cứu của Thủ tướng hoặc cuộc họp của Viện IDS hôm nào!



Thuyết trình của TS Giáp VănDương gồm 2 vấn đề: “Hạ tầng mềm” và “Việt Nam – những bài toán lớn”. Một số nội dung của thuyết trình này đã được đăng tải trên TuầnViệtNam của VietnamNet trong thời quan vừa qua. Theo TS. Giáp Văn Dương, Việt Nam hiện đang đứng trước 12 bài toán lớn, cần phải giải quyết để đưa đất nước phát triển.

TS Giáp Văn Dương nhận được 11 câu hỏi của các cử tọa, khiến cho phần thảo luận diễn ra rất sôi nổi, thẳng thắn. Dưới đây xin giới thiệu các bài của TS Giáp Văn Dương đăng trên Tuần Vietnam:

http://www.tuanvietnam.net/xay-dung-ha-tang-tu-duy
http://www.tuanvietnam.net/ha-tang-tu-duy-va-phat-trien-dat-nuoc
http://www.tuanvietnam.net/2009-09-22-thao-gong-phat-trien

Kết thúc tọa đàm, TS Giáp Văn Dương có dành "một phút cho quảng cáo" về làng Then của mình.

Xem thêm bài tường thuật chi tiết cuộc tọa đàm này tại đây và tại đây nữa.

Nguyễn Xuân Diện

Nguồn: http://nguyenxuandien.blogspot.com/2009/12/viet-nam-va-12-bai-toan-lon.html


Thứ Ba, 22 tháng 9, 2009

Tăng cường lòng tin: từ đâu và như thế nào?

Học viện Ngoại giao của Việt Nam vừa tổ chức một hội thảo về chủ đề “Tăng cường lòng tin trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, nhìn từ góc độ các địa phương hai bên biên giới”.

AFP PHOTO/Frederic J. Brown

Thủ tướng VN Nguyễn Tân Dũng gặp gỡ Thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo hôm 17-4-2009, nhân chuyến sang Trung Quốc tham dự Diễn đàn Kinh tế Bác Ngao.

Tăng cường lòng tin

Quan hệ Việt – Trung vốn không đơn giản và suốt vài thập niên qua, quan hệ này đã được bàn luận rất nhiều, kèm theo đó là không ít ý kiến bày tỏ sự nghi ngại trước những diễn biến bất thường, trong mối quan hệ được nhận định là phức tạp này.

Tường trình về hội thảo “Tăng cường lòng tin trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, nhìn từ góc độ các địa phương hai bên biên giới”, với sự tham dự của đại diện cả hai bên, diễn ra hôm 24 tháng 8 tại Hà Nội, Thông tấn xã Việt Nam cho biết:

“Các đại biểu nhất trí với đánh giá cho rằng, trong thời gian qua, quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã phát triển mạnh ở tất cả các lĩnh vực. Việc đạt được các Hiệp định phân định vịnh Bắc bộ, Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc bộ và việc hoàn tất kế hoạch phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ Việt - Trung...

Đó là bằng chứng thuyết phục về tình hữu nghị và hợp tác, nhiều vấn đề phức tạp đã được hai nước cùng nhau tìm ra cách giải quyết thỏa đáng. Trong lĩnh vực thương mại, Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, trao đổi thương mại hai chiều trong năm 2008 lên tới 21 tỉ USD. Hợp tác văn hóa xã hội và các lĩnh vực khác cũng ngày một phát triển.”

Thông tấn xã Việt Nam kể thêm, tại hội thảo vừa đề cập, “các đại biểu nhất trí cho rằng, quán triệt phương châm ‘láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai’ và tinh thần ‘láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt’, nhiều vấn đề tồn tại đã được giải quyết”.

Từ đâu và như thế nào?

Điều đó có sát thực tế và có phải ai cũng thừa nhận như vậy?

Hai ngày sau cuộc hội thảo về “Tăng cường lòng tin trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, nhìn từ góc độ các địa phương hai bên biên giới” mà Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu, tới lượt báo điện tử VietNamNet, cơ quan ngôn luận của Bộ Thông tin Truyền thông Việt Nam giới thiệu bài “Việt – Trung: Niềm tin có điều kiện” của ông Giáp Văn Dương. Tác giả cho biết, vì hội thảo vừa kể mà ông lên tiếng.

Bàn về cơ sở hình thành niềm tin, ông Dương nhận định: “Niềm tin đến từ sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Nếu nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng nhau không được tuân thủ, niềm tin không tồn tại. Niềm tin khi đó – nếu có hoặc tin rằng có - sẽ trở thành niềm tin mù quáng và sự nhu nhược của kẻ yếu, sự uy hiếp và mưu toan của kẻ mạnh...”

Ông Dương cảnh báo: “Niềm tin đến từ thiện chí của mỗi bên. Nếu không có thiện chí, xây dựng niềm tin chẳng khác nào xây lâu đài trên cát. Không có thiện chí, dù cố công đến bao nhiêu đi chăng nữa, niềm tin mong manh – nếu đạt được – sẽ chỉ là hình thức vô hồn. Vì thế, để xây dựng niềm tin, đòi hỏi thiện chí của cả hai bên. Mà thông thường, thiện chí của kẻ mạnh là điều quyết định. Nếu một bên xây một bên phá, thì niềm tin không bao giờ đạt được. Mà nếu đạt được, cũng sẽ chỉ là niềm tin giả tạo.”

Đối chiếu với thực tế, ông Dương cho rằng: “Nhìn ra biển Đông, thấy không phải lúc nào thiện chí gây dựng niềm tin cũng được thể hiện. Niềm tin còn đến từ sự tuân thủ các nguyên tắc chung... Trong bang giao quốc tế, đó là các cam kết và bộ luật mà các bên đã tham gia ký kết. Nếu không tuân thủ các nguyên tắc chung và không dùng pháp lý làm cơ sở, niềm tin sẽ không bền vững.

Niềm tin sẽ trở nên cảm tính, và lung lay dưới tác động của lòng tham. Nếu không tuân thủ các nguyên tắc chung, lời nói về niềm tin sẽ trở thành ngụy biện, rao giảng về niềm tin sẽ trở thành lố bịch. Nhưng nhìn ra biển Đông, không phải lúc nào những nguyên tắc chung cũng được tuân thủ.

Box 1:

Việc đạt được các Hiệp định phân định vịnh Bắc bộ, Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc bộ và việc hoàn tất kế hoạch phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền là những sự kiện có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ Việt - Trung.

TTXVN

Chúng ta thành tâm, thiện chí, tôn trọng, bình đẳng và tuân thủ các nguyên tắc chung. Trung Quốc cũng cần phải như vậy. Nếu không, việc gây dựng niềm tin trong quan hệ Việt-Trung sẽ chỉ là ảo tưởng.”

Đó là suy nghĩ của ông Dương về việc xây dựng, củng cố niềm tin trước khi “tăng cường lòng tin” trong quan hệ Việt – Trung. Còn công chúng?

Ở thời điểm cuối năm 2007, đầu năm 2008, người Việt trong nước từng vài lần, xuống đường sau khi Quốc hội Trung Quốc tuyên bố sáp nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào một đơn vị hành chính mới có tên là Tam Sa.

Đây là niềm tin mà họ bày tỏ trước Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội: Trung Quốc xâm lược! Không được bành trướng! Phản đối Tam Sa!.. cũng như trước Lãnh sự quán Trung Quốc tại TP.HCM: Trả lại Hoàng Sa! Trả lại Trường Sa!.. Đến bây giờ, hình ảnh cũng như âm thanh của những lần bày tỏ dân ý, chứng thực niềm tin đó, vẫn còn trên nhiều blog, đặc biệt là website youtube như qúy vị vừa nghe!

Cùng bàn về niềm tin, cách nay vài tháng, khi trả lời Ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự Do, ông Dương Danh Dy - cựu Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc, cựu Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc – kể:

“Tôi làm việc với Trung Quốc suốt từ năm 1962, đến năm nay về hưu rồi nhưng mà vẫn cứ tiếp xúc, vẫn phải làm với Trung Quốc - anh láng giềng to, khoẻ, lại tham, xấu tính. Mệt lắm! Lúc hữu nghị mình tưởng nó giúp mình hết sức nhưng mà nó luôn luôn tìm cách thọc gậy. Ngay trong những lúc họ giúp đỡ mình to lớn nhất, họ vẫn có ý đồ. Lúc đầu mình không để ý.

Cho nên trong một buổi phát biểu gần đây tôi có nói thế này: "Mắt tôi đã từng thấy thế hệ cha anh bị Trung Quốc mang lòng tin ra để đánh lừa, thế hệ tôi cũng có lúc bị Trung Quốc mang lòng tin ra để đánh lừa. Tôi hy vọng và mong rằng thế hệ sau tôi không mắc những cái nhược điểm đó".

Đây cũng là điều mà ông Giáp Văn Dương, tác giả bài “Việt – Trung: Niềm tin có điều kiện” nhấn mạnh: Niềm tin trân quý. Nhưng không thể là niềm tin mù quáng. Càng không thể là sự bao biện của các âm mưu.

Box 2:

Nếu nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng nhau không được tuân thủ, niềm tin không tồn tại. Niềm tin khi đó – nếu có hoặc tin rằng có - sẽ trở thành niềm tin mù quáng và sự nhu nhược của kẻ yếu, sự uy hiếp và mưu toan của kẻ mạnh.

Ô. Giáp Văn Dương

Box 3:

Mắt tôi đã từng thấy thế hệ cha anh bị Trung Quốc mang lòng tin ra để đánh lừa, thế hệ tôi cũng có lúc bị Trung Quốc mang lòng tin ra để đánh lừa. Tôi hy vọng và mong rằng thế hệ sau tôi không mắc những cái nhược điểm đó.

Ô. Dương Danh Dy

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.

Nguồn: RFA ngày 28/8/09.

P.S: Đài RFA cẩu thả quá, nhầm tên tui (nhưng đã sửa ở đây rùi).