Hiển thị các bài đăng có nhãn mooc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mooc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

MOOCs, cuộc cách mạng trong giáo dục




Trở về Việt Nam sau nhiều năm học tập và làm việc ở nước ngoài, Tiến sĩ Giáp Văn Dương (*) đã gần như ngay lập tức tạo “sóng dư luận” bằng sự kiện khai trương GIAPSCHOOL – một loại hình giáo dục chưa từng có ở Việt Nam. Giáp Văn Dương chia sẻ với Người Đô Thị.


Sự ra đời của MOOC được nhiều chuyên gia đánh giá là một cuộc cách mạng trong giáo dục. Ảnh: TL
MOOC là gì? Câu trả lời phổ biến nhất sẽ là: MOOC là viết tắt của cụm từ Massive Open Online Course, tức Khóa học Trực tuyến Mở Đại trà. Trực tuyến vì được dạy và học trên mạng internet; Mở vì bất cứ ai cũng có thể tham gia; Đại trà vì số lượng người tham gia học có thể lên đến hàng trăm nghìn người. Khóa học đông người tham gia nhất hiện nay của MOOC là khóa Nhập môn Khoa học máy tính (CS 101) của Udacity với 300 nghìn người tham dự.
Sự ra đời của MOOC được nhiều chuyên gia đánh giá là một cuộc cách mạng trong giáo dục. Vì lẽ đó, tạp chí The New York Times đã gọi năm 2012 là năm của MOOC. Tất nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những lo ngại vê tương lai của MOOC.
Tuy vậy, bản thân khái niệm MOOC cũng vẫn đang phát triển và thay đổi không ngừng. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa nhất quán về MOOC. Nhưng chúng ta có thể tạm hiểu MOOC như một sự phát triển mới nhất của hình thức học trực tuyến (e-learning), trong đó nhấn mạnh đến sự phát triển của một khái niệm mới, một cách tiếp cận mới, hơn là một sự thay đổi về công nghệ, vì cả MOOC và e-learning đều sử dụng internet làm nền tảng triển khai nội dung đào tạo của mình.
Còn về GiapSchool, thì đó là một cổng MOOC tiên phong ở Việt Nam, được thiết kế để tải lên hàng trăm khóa học trực tuyến mở, cho hàng chục nghìn người tham người tham dự cùng một lúc. Trên thực tế, số khóa học có thể tải lên và số người tham gia học trên cổng GiapSchool là không hạn chế.
Hiện giờ, GiapSchool đang khai giảng các khóa học về nhiều cấp độ và lĩnh vực khác nhau, với tốc độ dự kiến là 2 khóa/tuần. Khóa học đầu tiên “Hiểu về giao tiếp” đã có hơn 1500 người đăng ký học, và vẫn tiếp tục tăng từng ngày. Các khóa khác số người đăng ký có ít hơn vì quá chuyên sâu vào một lĩnh vực hẹp, nhưng con số cũng rất đáng khích lệ.
Như anh mô tả , GIAPSCHOOL có vẻ là mô hình giáo dục chưa từng có ở Việt Nam. Người đứng đầu GIAPSCHOOL đang đứng trước những thuận lợi và thách thức gì?
Thuận lợi duy nhất là tôi có thể rút kinh nghiệm về thành công của một số cổng MOOC khác của thế giới, như edX, Coursera, vì họ ra đời trước khoảng một năm. Còn khó khăn thì vô vàn. Đầu tư cho giáo dục trực tuyến mở đòi hỏi chi phí về nhân lực và tài chính rất lớn. Chẳng hạn, edX được Harvard và MIT đầu tư 60 triệu USD, còn Coursera được các nhà đầu tư cung cấp 65 triệu USD để phát triển. Ngay Khanacademy, một cổng giáo dục trực tuyến tương tự như MOOC, cũng được đầu tư đến nay gần 10 triệu USD từ Google, Bill & Melinda Gates Foundation và cộng đồng Mỹ và thế giới.
Nhưng GiapSchool đến giờ vẫn là một dự án cá nhân, được xây dựng bằng tiền túi của một người, nên không đủ tiềm lực để đầu tư lớn về cơ sở vật chất. Ngay cả nhân lực cũng rất hạn chế. Tôi gần như phải làm tất cả mọi việc to nhỏ khác nhau, từ soạn bài, giảng bài, đến quản trị trang, giải đáp thắc mắc của học viên… Vì thế, tôi phải tìm một cách vận hành GiapSchool hoàn toàn khác với các cổng MOOC hiện thời, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng của các khóa học. Việc đó thực sự rất khó khăn.
Ở Anh, Internet đóng góp 8,3% GDP. Ở Việt Nam, hơn 35% dân số sử dụng Internet và những mô hình như GIAPSCHOOL có gợi lên được những hi vọng mới nào cho đời sống tinh thần và kinh tế của Việt Nam không, thưa anh?
Con số 35% dân số Việt Nam tiếp cận internet, tương ứng với khoảng 30 triệu dân, là con số rất đáng khích lệ. Tuy phần lớn những người này còn dùng internet cho các mục đích giải trí, thì tôi cho rằng đây cũng là một tin mừng, một số lượng tới hạn để các mô hình giáo dục, kinh tế trên internet hoạt động được.
Trên thực tế, internet đã thay đổi rất nhiều thói quen sinh hoạt của nhiều người Việt Nam, đặc biệt là những người sống ở thành thị. Rất nhiều người khởi đầu một ngày mới bằng việc vào internet để kiểm tra thư điện tử, tin nhắn, lịch làm việc, tìm kiếm thông tin, đọc báo v.v. và cũng thường kết thúc một ngày theo cách tương tự.
Cách tiếp cận và xử lý thông tin, cách giao tiếp và triển khai công việc cũng hoàn toàn khác trước. Cả thế giới rộng lớn được mở ra trên mạng. Không còn lo thiếu thông tin nữa, mà lo xử lý thông tin sao cho hiệu quả và chính xác. Như vậy, rõ ràng internet có ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhóm người này.
Trong bối cảnh đó, các mô hình giáo dục như GiapSchool hoàn toàn có thể có những đóng góp rất tích cực cho xã hội. Để đơn giản, chị có thể hình dung một câu chuyện như sau: Sau một ngày mệt nhọc, buổi tối chị phải dạy con học bài. Nhưng chị quá mệt mỏi để đọc sách và giảng bài cho con. Kiến thức của chị có thể cũng không đủ cập nhật, hoặc đơn giản là chị đã quên mất. Vậy thì làm sao? Thật đơn giản: mở điện thoại, máy tính bảng, máy tính cá nhân để vào các trang như GiapSchool và chọn bài giảng phù hợp. Hai mẹ con có thể cùng xem, hoặc con chị có thể tự học một mình. Vậy là chị không còn phải mệt nhọc để hướng dẫn con học vào buổi tối nữa. Con chị có thể tự học, vì luôn có một gia sư ở bên cạnh.
Cháu cũng có thể tự học ở nhà theo chỉ dẫn của cô giáo. Sáng hôm sau đến trường, thay vì học các khái niệm mới, cháu sẽ được thảo luận với cô về bài học ở nhà, sau đó làm bài tập. Như vậy qui trình học đã thay đổi hoàn toàn. Việc học cũng được cá nhân hóa ở mức rất cao. 
Một tình huống khác là chị cũng muốn học thêm một lĩnh vực nào khác, hoặc củng cố kiến thức cũ của mình, vậy là chị lại vào GiapSchool chọn một khóa học phù hợp mà không cần phải đến trường. Và bất cứ người nào khác cũng đều có thể làm như chị.
Khi quyết định trở về từ môi trường làm việc ở Singapore, anh đã nghĩ đến việc mở GIAPSCHOOL ? Ai ủng hộ anh mạnh mẽ nhất trong quyết định này?
Tất nhiên rồi, thưa chị. Khi rời Singapore, tôi mang theo hai ý tưởng: xây dựng Tủ sách chuyên gia và cổng giáo dục trực tuyến mở GiapSchool. Ban đầu tôi ưu tiên cho tủ sách, vì không nghĩ mình có thể tự làm cổng giáo dục trực tuyến mở, do đầu tư quá lớn.
Nhưng sau hai tháng, công việc của tủ sách tiến triển rất chậm vì vướng mắc bản quyền. Kinh tế vẫn chìm trong khủng hoảng nên việc vận động kinh phí biên dịch gặp khó khăn rất lớn, các nhà xuất bản cũng không mặn mà với thể loại sách này, nên tôi phải đẩy dự án về cổng giáo dục trực tuyến mở thành ưu tiên trước. Thoạt nhìn thì hai dự án này rất khác nhau, nhưng thực tế lại cùng chung mục đích đưa tri thức thế giới về Việt Nam.
Và người ủng hộ tôi nhất là vợ và cả các con tôi. Lúc đó, chúng tôi không còn cách nào khác là phải làm việc. Khó khăn đến mấy cũng phải tìm cách vượt qua. Nếu không, chuyến trở về của cả gia đình sẽ trở thành vô nghĩa. Lúc đó chúng tôi gần như sống biệt lập ở ngoại ô Hà Nội suốt 6 tháng trời, và câu cửa miệng của cả nhà trong suốt mấy tháng đó là GiapSchool. Ngay cả cô con gái nhỏ chưa đầy 5 tuổi của tôi cũng tình nguyện đọc giúp mấy bài thơ thiếu nhi cho GiapSchool.
Còn mới quá nhưng vẫn muốn hỏi: anh tin bao nhiêu phần trăm vào sự tồn tại và phát triển của GIAPSCHOOL?
Là 100%. Nếu không, tôi đã chẳng mạo hiểm như vậy.
*Sinh năm 1976. Th.S công nghệ hóa dầu tại Hàn Quốc. TS vật lý kỹ thuật tại Áo. Làm việc tại Đại học Liverpool (Anh) và phòng thí nghiệm Temasek Đại học Quốc gia Singapore (NUS).
Thanh Nguyễn thực hiện
---

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Bỏ chuyên môn sâu để xây nền móng rộng

NDĐT - Sau 12 năm bôn ba từ Á sang Âu học thạc sĩ, tiến sĩ rồi nghiên cứu về công nghệ hóa học và vật lý kỹ thuật, cuối năm ngoái, TS Giáp Văn Dương trở về Việt Nam và dồn tâm huyết để xây dựng cổng giáo dục trực tuyến mở đại trà và trở thành cá nhân đầu tiên trên thế giới làm việc này. Anh quan niệm đơn giản rằng: Hàng nghìn người Việt Nam có chuyên môn sâu để nghiên cứu vật lý, nhưng làm giáo dục đến nơi đến chốn và bắt nhịp được thế giới thì rất ít… 



TS Giáp Văn Dương

Cần đồng thuận cho một triết lý giáo dục

- Thưa TS Giáp Văn Dương, từ bé đến lớn, anh đã được sống trong môi trường giáo dục như thế nào?

- Tôi trải qua nhiều môi trường giáo dục khác nhau, lúc bé học ở trường làng đúng nghĩa, môi trường GD rất Việt Nam, rất miền quê ở miền núi Bắc Giang. Giáo dục với tôi giống như duyên nghiệp, tôi từng đăng ký thi ĐH Sư phạm, nhưng rồi lại học Bách khoa. Học xong ĐH Bách khoa tôi ở lại trường. Sau đó, tôi học cao học ở Hàn Quốc, làm TS ở Áo, rồi sang Anh, Singapore làm việc ở nhiều chuyên ngành khác nhau, lúc đầu là hóa học, sau đó là vật lý, và tự học thêm trong lĩnh vực xã hội. Giờ đây tôi từ bỏ tất cả con đường đó để quay về Việt Nam mở cổng giáo dục trực tuyến mở đại trà. Nghề sư phạm có một tiếng gọi sâu xa bên trong khiến tôi đã nhiều lần dứt bỏ mà không thoát được.

- Với những môi trường giáo dục khác nhau đó, anh nhận ra điều gì?

- Đầu tiên là một sự đa dạng và phải tôn trọng sự đa dạng đó. Trước đây tôi được dạy người Việt Nam cần cù, thông minh, nhưng sang Hàn Quốc tôi thấy người Hàn Quốc còn cần cù hơn, họ dậy sớm hơn, làm việc khuya hơn, thư viện của họ mở cửa sáng đèn suốt đêm. Nhiều SV Việt Nam không chịu được cường độ làm việc như vậy. Khi tiếp xúc nhiều môi trường GD khác nhau, tôi thấy cần phản tư lại mình, tự truy vấn lại mình.

- Anh từng nói về thực trạng truyền thông và gọi đó là “bãi rác truyền thông”, vậy với thực trạng giáo dục thì sao?

- Câu chuyện giáo dục còn phức tạp hơn truyền thông, vì hệ thống của nó quy mô hơn, bám rễ sâu hơn, liên hệ với nhiều người hơn và chịu nhiều sự chi phối từ xã hội, gia đình và mong muốn của cá nhân nữa. Và thực sự giáo dục đã từng rơi vào trạng thái vỡ trận và không kiểm soát được.

Một trong những điểm mấu chốt mà nhiều nhà giáo dục từng nhắc đến đó là lối thoát, hay còn gọi triết lý giáo dục là gì. Vấn đề lớn nhất của GD bây giờ là hệ thống hiện tại chỉ đào tạo con người công cụ, con người biết nghe lời, biết chấp hành, tuân thủ, trong khi bản chất của con người thì không thể chấp nhận trở thành công cụ.

- Theo anh, có một triết lý giáo dục chung cho cả một dân tộc hay một đất nước không? 

- Tôi tin là có triết lý giáo dục chung cho tất cả mọi người, thậm chí cho cả một thời đại. Thí dụ trào lưu khai sáng ở châu Âu thế kỷ 17-18 là tinh thần chung của cả một thời đại, hoặc là triết lý giáo dục đại học do Alexander von Humboldt khởi xướng từ 200 năm trước rằng, ĐH phải gắn liền với nghiên cứu và tự do học thuật - tự do học thuật có thể tạm hiểu là tự do dạy, tự do học và tự do nghiên cứu - vẫn đang được các nước châu Âu Mỹ triển khai hiệu quả.

- Ở Việt Nam có thể tìm được sự đồng thuận cho một triết lý giáo dục chung như thế không? 

- Trong cuộc tọa đàm về triết lý giáo dục mới đây, tất cả các nhóm khác nhau từ doanh nhân, chuyên gia, nhà giáo dục đều thống nhất là phải tìm triết lý giáo dục ở hình dung về sản phẩm “đầu ra” của GD. Chính việc hình dung những phẩm tính của con người mà hệ thống giáo dục đào tạo ra sẽ quy định cách tổ chức và triển khai các nội dung giáo dục cụ thể. Mỗi nhóm đều đưa ra quan điểm của mình, nhưng nói chung đều rất gần nhau. Vì thế, theo tôi, có thể có được sự đồng thuận cho một triết lý giáo dục chung. Tôi đã chọn triết lý “con người tự do là đích đến của giáo dục”, vì khát vọng trở thành con người tự do, được chịu trách nhiệm về số phận của mình, được sống cho lý tưởng của mình, được làm điều mình thích, là khát vọng chung cho tất cả mọi người.

Các nhà giáo dục thì cần thấy được sự cần thiết đó, nhưng để triển khai thì phải là các nhà làm chính sách, phải là sự vận hành của cả hệ thống GD. Vì thế, tôi nghĩ việc đầu tiên là phải nói ra điều đó để các nhà làm chính sách biết, vì có thể họ muốn thay đổi nhưng không biết thay đổi như thế nào. Thứ hai, bản thân các nhà GD kiến nghị rất nhiều, nhưng đã đến lúc họ phải tự đứng ra làm những việc cụ thể, mô hình cụ thể để chứng minh, thử nghiệm điều mình nói. Và cuối cùng, truyền thông phải vào cuộc để tạo ra một cuộc vận động chung của xã hội.

Hành trình “tự thân khai sáng” 

- Vậy triết lý giáo dục mà anh đưa ra có thể áp dụng cho số đông không? 

- Tất nhiên, khi tôi xây dựng trường trực tuyến GiapSchool ở một quy mô như thế là quy mô số đông, hiện đã có 8 nghìn người theo học.

- Tại sao triết lý giáo dục của anh lại gắn với hình thức giáo dục trực tuyến chứ không phải là hình thức thức giáo dục khác? 

- Tôi mong muốn được triển khai trên tất cả các hệ thống khác nhưng một mình tôi không thể thực hiện được. Và giáo dục trực tuyến cũng là môi trường phù hợp nhất với tôi. Ở đó tôi toàn quyền triển khai, tự do dạy những khóa mình thích, học viên cũng tự do học và thảo luận những thứ họ thích. Không ràng buộc và hoàn toàn miễn phí. Mỗi người tự do và tự chịu trách nhiệm trong việc khai sáng bản thân mình. Đó cũng là lý do tại sao tôi chọn khẩu hiệu cho GiapSchool là “Tự thân khai sáng”.

- Hình thức giáo dục trực tuyến của GiapSchool có khác nhiều so với những trường trực tuyến đã mở trên mạng không, thưa anh? 

- Khác về bản chất. Các hệ thống đã có trên mạng được xây dựng theo hình thức e-learning, còn trường của tôi mở theo hình thức MOOCs, là giáo dục trực tuyến mở đại trà. Đây là hình thức phát triển mới nhất của học trực tuyến. MOOCs vẫn mang những đặc trưng của e-learning như phải dùng máy tính, mạng internet, nhưng cách tổ chức của nó hoàn toàn khác. Nhưng cái khác nhất là đột phá về quan niệm và cách tiếp cận trong việc dạy và học, đặc biệt là tính mở và khả năng tương tác được mở rộng.

- Anh đã đầu tư vào cổng giáo dục trực tuyến mở đại trà đầu tiên ở Việt Nam như thế nào?

- Ý tưởng ban đầu của tôi khi trở về Việt Nam vào cuối năm 2012 là xây dựng Tủ sách Chuyên gia để dịch và biên dịch sách khoa học kỹ thuật và cổng MOOCs. Tôi đã chọn dự án dịch sách để khởi động. Trước khi về, tôi đã vận động được 20 tiến sĩ trẻ cùng tôi biên dịch, nhưng đến khi tôi đưa gia đình về do thì kinh tế khó khăn, những người hứa ủng hộ dự án làm sách chỉ lặng lẽ cười. Các nhà xuất bản thì nói đây là chương trình lớn và không ai muốn mua bản quyền sách khi xuất bản nó chỉ bán được vài trăm cuốn. Khi dự án nhỏ hơn trục trặc thì tôi đành phải làm dự án to hơn là xây dựng cổng MOOCs. Nhưng dự án to có ưu điểm là tôi có thể chủ động được công việc trong khi dự án kia phụ thuộc vào quá nhiều đầu mối. Tôi nghĩ đây là một sự liều lĩnh, nhưng chính xác.

- Nhưng nếu chỉ dựa vào kiến thức của riêng anh thôi làm sao có thể triển khai thành trường? 

- Đó là một thách thức lớn. Đầu tiên tôi giảng dạy những chuyên môn và kiến thức mà mình tích lũy trong mười mấy năm qua, thứ hai là xử lý những giáo trình bằng tiếng Anh. Tôi cũng sẽ Việt hóa những khóa đã có, giống như dịch sách, như vậy sẽ đỡ mất nhiều công sức hơn. Tôi đã từng xây dựng một đội ngũ giảng viên để soạn bài mà không thành công, vì GiapSchool hiện giờ chưa có văn phòng, không có tiền trả lương cho người làm việc. Khi tôi kêu gọi tình nguyện viên soạn bài thì có một số giáo viên gửi bài đến, nhưng những bài đó không thể sử dụng được vì không phù hợp. Trừ phi có đầu tư lớn và tự tổ chức một văn phòng làm việc cho khoảng 10 người, tôi trực tiếp chỉ đạo cách thức soạn bài, thì những bài đó mới dùng được.

Tự đặt “tiên đề” và theo đuổi đến cùng 

- Vậy giờ đây anh lấy kinh phí đâu ra cho chính anh để hoạt động, vì anh cũng không được trả lương? 

- Nhiều người cũng hỏi tôi điều đó. Tôi dùng bằng tiền tiết kiệm của cá nhân để đầu tư ban đầu. Dù khó khăn nhưng tôi có niềm tin ngây thơ rằng một việc mà có lợi ích cho hàng triệu người thì nó sẽ phải sống, không bằng cách này thì cách khác.

- Anh đang có một sự nghiệp học thuật bắt đầu đến điểm “chín” để đi xa hơn thì anh lại “rẽ” khi ở tuổi 35. Có bao giờ anh định quay lại làm việc trong chuyên ngành đã học?

- Tôi không định quay trở lại, nhưng vẫn cập nhật kiến thức, để giảng dạy chứ không để nghiên cứu. Quỹ thời gian của tôi không cho phép phân thân để làm cả hai việc đó, nên đành phải từ bỏ chuyên môn sâu để xây nền móng rộng. Nếu tôi theo chuyên môn sâu nghiên cứu về vật lý thì đã rất nhiều người ở Việt Nam có thể làm được điều đó, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người có thể làm. Nhưng để làm GD đến nơi đến chốn và bắt nhịp được thế giới thì rất ít. Vì thế tôi đã từ bỏ thứ nhiều người làm được để làm thứ ít người làm hơn, khi đó hiệu quả chung sẽ mạnh hơn, tốt hơn cho Việt Nam.

Tôi nghĩ rằng Việt Nam cần một nhóm người làm GD tinh nhuệ và hiện đại để đi cùng nhịp với giáo dục của thếgiới trong một số trường hợp cụ thể.

- Nhưng không có tiền đầu tư lớn, tương lai ấy gần như đang bế tắc. Chắc anh phải có cách chứ? Cách đơn giản nhất là anh có thể thu phí từ học viên?

- Tôi chưa thấy dấu hiệu của bế tắc. Còn khó khăn thì vừa làm vừa gỡ. Khác biệt lớn nhất của MOOCs so với e-learning là không thu phí. Nếu mình thu phí chẳng khác gì họ. Thứ hai, khi xây dựng hệ thống trường trực tuyến, tôi đã đặt ra ba tiên đề làm trụ cột để xây dựng GiapSchool: Tri thức miễn phí, Con người tự do, Tự thân khai sáng. Vậy thì làm sao tôi có thể chặt đi một trụ cột của mình được, nếu bỏ một tiên đề, cả hệ thống của tôi sẽ sụp đổ.

- Mong muốn lớn nhất của anh lúc này?

- Huy động được nguồn lực để mở một studio thu và dựng bài giảng. Nếu có một văn phòng tử tế, có studio, có cộng tác viên đến làm việc thì sẽ rất tốt.

Trông đợi từ bên ngoài rất khó vì tất cả những nhà đầu tư đều nghĩ đến kinh doanh GD chứ không làm GD. Khi tôi đưa ra hai tiêu chí là miễn phí các khóa học và không quảng cáo trên trang thì họ đều lảng tránh. Nhưng tôi nghĩ rằng kinh doanh GD thì có thể thất bại nhưng đã làm GD thì chỉ có thành công lớn hoặc nhỏ chứ không bao giờ thất bại.

- Vậy anh và GiapSchool sẽ “sống” bằng cách gì?

- Nếu cộng đồng thấy nó có ích thực sự thì sẽ đóng góp để nuôi sống nó bằng cách này hay cách khác. Có thể bản thân tôi sẽ tự thỏa hiệp, chấp nhận lời mời làm việc bán thời gian ở đâu đó để có thêm thu nhập, như tư vấn lựa chọn công nghệ chẳng hạn. Nếu sau hai năm mà hệ thống của chúng tôi vẫn không được chấp nhận và ủng hộ thì tôi sẽ ra đi rất thanh thản, vì đã cố gắng hết sức.

- Cảm ơn TS Giáp Văn Dương và mong rằng anh sẽ thành công khi lựa chon con đường này!
---

Cuối tháng 8-2013, từ nỗ lực cá nhân của một nhà khoa học, cổng giáo dục trực tuyến mở đại trà (MOOCs - Massive Open Online Courses) - trào lưu giáo dục tiên tiến nhất - đã ra mắt tại Việt Nam. TS Giáp Văn Dương mất sáu tháng xây dựng xong cổng MOOCs GiapSchool. Đây là cổng đầu tiên của châu Á và là cổng giáo dục trực tuyến mở đại trà đầu tiên bằng tiếng Việt. Sự kiện này gây ngạc nhiên không chỉ cộng đồng GD trong nước mà cả quốc tế. Trong khi các nước phải đầu tư hàng chục triệu đô la để xây dựng MOOCs thì ở Việt Nam, một cá nhân lại làm được điều đó. Nó chứng minh: một người cũng có thể làm được MOOCs.

HỒNG VÂN THỰC HIỆN
---

Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

Giáo dục số: cơ hội mới cho phát triển

Giáp Văn Dương

(TBKTSG) - Giáo dục đã được nhiều lần đề cập đến như một vấn đề sống còn của đất nước, không phải chỉ ở Việt Nam và bởi người Việt Nam. Tuy nhiên, với một nước đi sau như Việt Nam thì nâng cao giáo dục lại càng cấp bách hơn. Điều này ngày càng được coi là hiển nhiên không cần bàn cãi. Chính vì thế, ông Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng Singapore, đã có lời khuyên khi đến thăm Việt Nam: “Thắng cuộc đua trong giáo dục thì mới thắng cuộc đua trong kinh tế”.



Internet ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực, và giáo dục cũng không ngoại lệ với trao lưu giáo dục trực tuyến mở đại trà đang bùng nổ trên thế giới. Ảnh: Thanh Tao.

Tri thức là sức mạnh

Tuy nhiên, điều này không cần phải nhờ đến những chính trị gia lừng lẫy như ông Lý Quang Diệu mới nhận ra, mà ngay cả người nông dân cũng biết như vậy. Vì thế, mỗi mùa thi đại học, các phụ huynh không quản đường xa đưa con em mình đến trường ứng thí. Mong muốn duy nhất của họ là “thắng trong cuộc đua giáo dục để sau này thắng trong cuộc đua kinh tế”, nói nôm na là học để sau này đỡ khổ.

Những tấm gương thoát khổ của gia đình chòm xóm, hay đi thoát ly nói theo ngôn ngữ nông thôn, đã giúp họ củng cố thêm nhận định này.

Đó là ở mức cá nhân. Còn giờ nhìn lại lịch sử ở mức quốc gia thì thấy rằng, các nước vươn lên trở thành cường quốc, hay ít nhất là chạm ngưỡng nước phát triển, phần nhiều cũng nhờ vào sự “thắng trong giáo dục”.
Các nước châu Á đi sau, nước nào ý thức được việc này, đầu tư cho giáo dục thích đáng, bỏ cái học truyền thống học chỉ để thi ra làm quan, trọng bằng cấp, để chuyển sang thực học thực nghiệp, thì phát triển được. Điển hình nhất cho xu hướng này là Nhật Bản ở thời Duy Tân Minh Trị.

Ở thời kỳ này, Nhật Bản đã tiến hành một cuộc cải cách giáo dục và văn hóa sâu rộng. Tinh thần của cuộc cải cách đó có thể gói lại trong khẩu hiệu: Thoát Á nhập Âu. Thoát Á ở đây là thoát khỏi cái học từ chương, sách vở của Nho giáo truyền thống; còn nhập Âu là nhập cái tinh thần khoa học kỹ nghệ, luật pháp, kinh doanh của châu Âu.

Nhờ chính sách thoát Á nhập Âu này mà chỉ sau vài chục năm, Nhật Bản đã vươn lên thành hàng cường quốc. Tất nhiên, để làm được như vậy, thì trước đó đã phải có một quá trình chuẩn bị lâu dài, thông qua các chương trình dịch thuật và Lan học (học phương Tây qua tiếng Hà Lan) đồ sộ và quy mô.

Hàn Quốc sau này cũng đã phát triển nhờ con đường tương tự: Đầu tư cho giáo dục, khoa học, kỹ thuật làm nền tảng để phát triển. Nhờ chính sách đúng đắn này, cộng với việc biết chớp thời cơ, chỉ sau vài chục năm, Hàn Quốc cũng đã vươn lên thành cường quốc, dù xuất phát điểm của những năm 1950 của họ cũng thấp như của Việt Nam.

Các nước nhỏ hơn như Đài Loan, Singapore vươn lên thành hổ thành rồng trong thời gian ngắn, cũng có sự đóng góp to lớn của giáo dục và kỹ nghệ.

Sở dĩ giáo dục có vai trò quan trọng như vậy là vì, đó là nơi sản xuất và truyền bá tri thức. Từ 500 năm về trước, triết gia F. Bacon đã có một nhận xét để đời: Tri thức là sức mạnh. Vậy nên, quốc gia nào nắm giữ được tri thức, quốc gia đó có sức mạnh.

Sự phát triển của công nghiệp châu Âu đã đẩy cuộc đua về tri thức sang một tầm cao mới. Thay vì tập trung vào truyền bá và tiêu thụ những tri thức đã tích lũy được, họ tập trung khai phá tri thức mới. Do đó, đại học có thêm một vai trò mới, quan trọng và chủ đạo: nghiên cứu để mở rộng tri thức.

Người đặt nền móng cho quan niệm về đại học nghiên cứu này chính là Alexander von Humboldt 200 năm về trước. Kể từ đó, đại học nghiên cứu đã trở thành hình mẫu của giáo dục đại học khắp thế giới.

Nơi thực hiện điều này hăng hái nhất chính là nước Đức, quê hương của Humboldt. Vì thế, không ngạc nhiên khi ngày nay nước Đức hùng cường, và ngay trong cơn khủng hoảng toàn thế giới, nước Đức vẫn vững vàng, và là đầu tàu kéo cả châu Âu.

Bài học nhãn tiền như vậy là đã quá rõ. Nhưng việc đầu tư để khám phá tri thức mới là rất tốn kém, đòi hỏi nhiều phương tiện và nhân lực chất lượng mà Việt Nam chưa thể đáp ứng ngay được. Nhưng không lẽ lại mãi đứng ngoài, mãi lạc hậu?

Bối cảnh mới

Trong lúc nhiều người còn loay hoay tìm câu trả lời cho bài toán nan giải này thì trào lưu giáo dục trực tuyến mở đại trà (MOOC) bùng nổ trên thế giới.

Xuất phát từ nước Mỹ, chỉ sau hai năm, trào lưu này đã lan ra khắp thế giới, và được nhắc đến như một cuộc cách mạng của giáo dục. Vì thế, tạp chí The New York Times đã gọi năm 2012 là năm của MOOC.

Lần đầu tiên, sau hàng ngàn năm, năng suất lao động trong giáo dục được đẩy lên cao đến vậy. Thay vì dạy vài chục học trò trong một lớp, sử dụng MOOC, một giảng viên có thể dạy cho hàng trăm ngàn người cùng một lúc.
Sự ra đời của MOOC có thể coi như một tất yếu của sự phát triển về công nghệ và kinh tế. Khoảng 10 năm nay, khái niệm về một nền kinh tế tri thức, và sau đó là kinh tế mở, đã trở thành xu hướng thời thượng không thể ngăn cản, không phải chỉ trong giới học thuật và chính trị, mà còn cả trên thực tế nữa.

Nhưng giáo dục Việt Nam đã chuẩn bị được gì cho cuộc hội nhập lớn này? Và đặc biệt, đã chuẩn bị tâm thế để đón bắt trào lưu giáo dục mở, hầu lấp đầy lỗ hổng tri thức của mình?

Câu trả lời là gần như chưa gì cả. Trừ nỗ lực của một số cá nhân, thì Bộ Giáo dục và Đào tạo và các trường chưa có chuyển động gì rõ ràng.

Vậy Việt Nam cần làm gì để tận dụng những cơ hội số do sự phát triển của Internet và công nghệ truyền thông mang lại?

Theo thống kê, đến năm 2012, thế giới có 2,4 tỉ người dùng Internet, tương ứng khoảng 34% dân số thế giới. Với các nước phát triển, tỷ lệ này đang gần chạm ngưỡng 70-80%.

Theo đánh giá của Boston Consulting Group, Internet đã đóng góp 8,3% vào tổng GDP của nước Anh, và tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khoảng 11%. Còn theo báo cáo McKinsey năm 2011, theo khảo sát 13 nước (Thụy Điển, Anh, Hàn Quốc, Nhật, Mỹ, Đức, Ấn Độ, Pháp, Canada, Trung Quốc, Ý, Brazil, Nga) thì Internet đóng góp trung bình 3,4% vào tổng GDP, trong đó thấp nhất là Nga (0,8%) và cao nhất là Thụy Điển (6,3%). Nhưng đặc biệt, 75% ảnh hưởng của Internet là đến từ các ngành truyền thống, và Internet góp phần tạo ra 21% tốc độ tăng trưởng GDP ở các nước phát triển.

Như vậy là Internet đã có sức ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của kinh tế toàn cầu. Ngay cả các ngành công nghiệp truyền thống cũng được hưởng lợi to lớn từ Internet. Vậy thì không có lý do gì để ngành giáo dục đứng ngoài cuộc.

Với Việt Nam, tỷ lệ dân số dùng Internet là 35%, tương ứng với 30 triệu người dùng. Tuy chỉ ở mức trung bình của thế giới, nhưng đây cũng là một điều kiện cần để các mô hình kinh doanh dựa trên Internet thử nghiệm và phát triển, trong đó có giáo dục.

Vấn đề còn lại là những người làm giáo dục Việt Nam có dám thử nghiệm và triển khai mô hình giáo dục mới mẻ này?

Cơ hội mới

Dù MOOC vẫn đang ở trong giai đoạn thử nghiệm và tương lai của MOOC vẫn còn chưa thực sự rõ ràng, vì nó quá mới và chưa định hình, nhưng có một thực tế không thể phủ nhận: lần đầu tiên, chương trình đào tạo của các đại học danh tiếng trên thế giới được mở ra cho đại chúng và tổ chức bài bản thành các khóa học. Chỉ cần có một kết nối Internet là ai cũng có thể theo học và hoàn toàn miễn phí.

Đây là những tri thức rất tiên tiến, được tổ chức bài bản và giảng dạy bởi những nhà khoa học hàng đầu trên thế giới. Những nước đi sau như Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội này để bù đắp vào lỗ hổng tri thức mà hàng trăm năm qua vẫn chưa được lấp đầy.

Ba năm trước, không ai có thể hình dung được mình lại có thể ngồi ở nhà, bất cứ nơi nào, để theo học những khóa học tiên tiến, và giao lưu với những chuyên gia giỏi nhất, nay nhờ MOOC, việc này trở nên rất dễ dàng, đến mức ai cũng có thể làm được. Vấn đề còn lại là người học có sẵn sàng nhập cuộc hay không mà thôi.
Có thể hình dung, trong giai đoạn này, khi phần lớn các khóa học vẫn sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy chính, thì biên dịch Việt hóa nội dung của các khóa này là cần thiết.

Việc này cũng tương tự như dịch sách của Nhật Bản và Hàn Quốc ngày xưa. Nhưng có ưu điểm là tri thức được truyền tải nhanh hơn, sống động hơn và đặc biệt là tránh được rào cản về bản quyền đối với việc dịch thuật.

Nếu việc truyền bá tri thức thông qua MOOC được thực hiện một cách bài bản và đến nơi đến chốn thì về dài hạn, sức tác động của nó đến sự phát triển của Việt Nam là vô cùng lớn.

Với một cá nhân, giờ đây anh ta được tự do học bất cứ thứ gì mà mình muốn, mà không bị giới hạn bởi địa lý và tài chính, vì chi phí cho việc theo học các khóa học này gần như bằng không.

Với các doanh nghiệp, nơi sử dụng trực tiếp các tri thức và kỹ năng mới, thì hình thức giáo dục này cũng mở ra những cơ hội mới.

Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt toàn cầu, các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng nhân lực không ngừng. Tại các doanh nghiệp năng động nhất, các nhân viên liên tục được đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng, không chỉ chuyên môn mà còn nhiều kỹ năng phụ trợ khác nữa.

Nhưng việc bồi dưỡng thuyền xuyên này rất tốn kém, đặc biệt là với các doanh nghiệp lớn và phi tập trung. Hãy thử tưởng tượng, một doanh nghiệp có mười ngàn nhân viên làm việc rải rác ở nhiều tỉnh thành khác nhau cần bồi dưỡng kỹ năng cho các nhân viên của mình. Vậy làm sau có thể bồi dưỡng kỹ năng cho ngần ấy con người? Nếu tiến hành tại chỗ, mỗi lớp vài chục người thì quá tốn kém.

Nhưng nếu sử dụng hình thức giáo dục mới, thì việc này lại rất dễ dàng. Thay vì đến lớp, tất cả học viên sẽ theo học một khóa bồi dưỡng theo hình thức MOOC. Cả chục ngàn người có thể theo học cùng một lúc, cùng một chương trình, vào thời gian thuận lợi nhất. Bộ phận đào tạo không cần di chuyển mà chỉ tập trung vào chuẩn bị nội dung và quản trị khóa học.

Đó là cơ hội học tập lớn cho cả cá nhân và doanh nghiệp. Nhưng ở quy mô quốc gia, thì đây là cơ hội để nền giáo dục đẩy nhanh tốc độ hội nhập, cập nhật nội dung chương trình thông qua việc đối chiếu và bổ khuyết các chương trình đào tạo của mình.

Sử dụng MOOC, một quốc gia có thể lấp đầy lỗ hổng kiến thức của mình rất nhanh. Nếu làm nghiêm túc thì chỉ trong vài năm là có thể tải về một lượng tri thức mà thế giới tích lũy trong hàng trăm năm.

Đây là cơ hội lớn chưa từng có. Nhưng khai thác được nó hay không, lại phụ thuộc vào nhận thức, chính sách và quyết tâm của các nhà làm chính sách, và sau đó, là lãnh đạo các doanh nghiệp liên quan, và cuối cùng là của từng cá nhân, trong công cuộc chạy đua làm chủ tri thức toàn cầu.

Đoàn tàu đã chuyển bánh, nhưng lên được tàu hay không lại phụ thuộc vào hành động của chúng ta.
---

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

Thách thức lớn nhất là cảm xúc trong quá trình dạy và học

 - Trong phần cuối cuộc trò chuyện với VietNamNet về chủ đề"một lối thoát cho giáo dục Việt Nam", TS Giáp Văn Dương nói, những thày cô  giáo thành công nhất, có ảnh hưởng lớn nhất  đến sự trưởng thành của học sinh, không phải là  những thày cô nhiều kiến thức nhất, mà là người giàu lòng yêu thương, giàu cảm xúc nhất.


Giáp Văn Dương, giáo dục trực tuyến, miễn phí, MOOCs
TS Giáp Văn Dương. Chân dung hội họa: Hoàng Tường/Báo Sài Gòn Tiếp Thị

Anh cảm thấy thế nào khi trước mặt mình chỉ là cái máy quay? Anh lấy đâu ra cảm hứng để thực hiện bài giảng? Anh có thể so sánh với việc đứng giảng trước sinh viên?
- Rất khó khăn. Qua đó, tôi biết được thách thức đầu tiên và có lẽ là lớn nhất trong giáo dục trực tuyến là việc dạy trực tuyến, chứ không phải học trực tuyến. Nếu vượt qua được các khó khăn của việc dạy trực tuyến thì việc học trực tuyến sẽ có nhiều cơ hội để thành công.
Vậy thách thức đó cụ thể là gì? Đó là vượt qua, hoặc ít nhất là khắc phục phần nào, những hạn chế về cảm xúc trong quá trình dạy và học.
William Butler Yeats cho rằng, giáo dục không phải là đổ đầy một bát nước, mà là thắp lên một ngọn lửa. Nhưng thắp lửa làm sao nếu không có cảm xúc?
Nếu nhìn lại việc học của mình, chắc hẳn chị sẽ đồng ý: những thày cô giáo thành công nhất, có ảnh hưởng lớn nhất đến sự trưởng thành của học sinh, không phải là những thày cô nhiều kiến thức nhất, mà là người giàu lòng yêu thương, giàu cảm xúc nhất.
Nhưng làm sao để truyền tải cảm xúc, truyền tải tình yêu thương qua một cỗ máy? Việc này quả thật là một thách thức rất lớn đối với giáo dục trực tuyến.
Khi giảng bài cho sinh viên thực, bạn có thể dùng tất cả các phương tiện biểu hiện khác nhau, như lời nói, ánh nhìn, sự lắng nghe, mức độ biểu cảm, khoảng lặng, ngôn ngữ cơ thể.… Bạn cũng có thể dừng lại để trao đổi với sinh viên. Bạn có thể cười mỉm hoặc cười to, thậm chí cáu gắt. Đó là một cuộc sống rất thật, rất đời, rất sống động và nhiều cảm xúc.
Nhưng khi giảng trực tuyến trước máy tính thì không thể. Bạn không có gì hết. Chỉ có bạn và chiếc máy tính vô cảm. Điều này làm cho việc giảng bài trực tuyến trở nên rất thách thức. Và để vượt qua nó, người giảng bài phải có một niềm tin rất lớn vào ý nghĩa của việc mình làm, phải làm chủ được cảm xúc của mình, phải rất tĩnh và rất trống. Đồng thời lại phải sôi động để tránh buồn ngủ. Nói chung là rất khó. Phải tập luyện rất nhiều thì mới có thể thực hiện được.
Nếu so với việc giảng bài cho sinh viên thực, thì giống như việc bạn trò chuyện, hay khiêu vũ với một con người và một bức tượng. Bạn phải hiểu được bức tượng kia đang nghĩ gì, cảm xúc thế nào, để tìm cách trò chuyện sao cho phù hợp và hiệu quả.
Người sáng lập Học viện Khan năm 2009 - ông Salman Khan – chia sẻ: “Phần lớn thời gian hàng ngày tôi măc áo thun giá 6 đô la quần vải bông nói chuyện với máy tính và dám ước mơ lớn. Tôi không mơ thiết lập được một trang mạng phổ biến hay là một tia chớp trong thảo luận về giáo dục. Có lẽ tôi là một người ảo tưởng, nhưng tôi đã mơ thành lập một cái gì đó dài lâu và có tính biến đổi, một tổ chức cho thế giới có thể tồn tại vài trăm năm và giúp chúng ta tư duy lại một cách căn bản việc dạy học có thể thực hiện như thế nào”.
Học viên của GiapSchool có thể hình dung như thế nào về người thầy của mình? Và anh có đem ước mơ của mình vào các bài giảng?
- Về tôi ư? Ngoài hai chữ tự do thì hiện tôi không còn gì để mô tả, và không có nhu cầu tự mô tả về mình. Tôi nghĩ tốt hơn hãy để cho họ tự do tưởng tượng. Còn ước mơ, tất nhiên là tôi có. Phải có ước mơ mới có thể làm những việc như vậy. Và khi ước mơ đó đủ lớn thì tự nó sẽ lan tỏa và trong các bài giảng. Khi đó, bạn học sẽ tự khắc nhận ra.
Khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” sẽ hoàn toàn không còn chỗ đứng, khi trước mặt mỗi người chỉ là cái máy tính?
- Không hẳn thế. Khi học trực tuyến thì cũng vẫn có lễ, có phép tắc. Lễ trước hết là với bản thân mình, sau là với giảng viên và bạn bè cùng khóa, khi giao tiếp và cùng thảo luận bài học. Còn phép tắc là các quy định về tiến trình học, kiểm tra đánh giá…mà mỗi người phải tuân thủ. Tuy nhiên, mức độ thì nhẹ nhàng hơn so với đời sống thực bên ngoài.
Giáp Văn Dương, giáo dục trực tuyến, miễn phí, MOOCs
Theo quan niệm giáo dục hiện đại, học để ứng xử chỉ chiếm một phần nhỏ. Vì vậy, không nên dùng cái phần rất nhỏ này để bao trùm lên mọi hoạt động giáo dục.Trong ảnh: Học sinh lớp 1 trong ngày khai giảng năm học mới. Ảnh: Văn Chung
Tuy nhiên, điều tôi e ngại không phải là khẩu hiệu này không còn chỗ đứng, mà ở chỗ chúng ta đã cổ vũ nó một cách thái quá dẫn đến phản giáo dục. Cụ thể, khẩu hiệu này ra đời trong nền giáo dục Nho giáo ở phương Đông. Truy nguyên và diễn giải nó thì rất dài dòng. Nhưng ta có thể hiểu vì sao cổ nhân lại dùng câu này thông qua việc trả lời hai câu hỏi sau:
Thứ nhất, mục đích của nền giáo dục ngày xưa là gì? Rất dễ thấy: về đại thể, đó là học để làm quan. Tất nhiên, vẫn còn những ngoại lệ. Nhưng rõ ràng sự học ngày xưa chủ yếu là để làm quan. Đó cũng là cách nhanh nhất để tiến thân, không chỉ cho mình mà còn cho cả gia đình, dòng họ, vì “một người làm quan cả họ được nhờ”, hay “ngựa anh đi trước võng nàng theo sau” đã là những ao ước của bao người.
Vì thế mới có những sĩ “sôi kinh nấu sử” để đi thi đến tận già. Không đỗ khóa này thì thi khóa sau. Nhưng nhất định phải thi đỗ mới dừng.
Thứ hai, trọng tâm của sự học ngày xưa là gì? Đó là học để ứng xử, mà chủ yếu là ứng xử xã hội. Do trật tự phong kiến quá khắc nghiệt, lại chỉ có một chiều trên – dưới, nên để tồn tại, mỗi người phải học được cách ứng xử cho đúng lễ nghi phép tắc. Vì thế mới có chuyện “tiên học lễ hậu học văn”.
Cũng vì học để ứng xử nên khoa học đã không ra đời ở phương Đông.
Ngày nay sự học đã khác đi, học để có kỹ năng và kiến thức. Học để trở thành người tự do. Trong báo cáo “Học tập: Kho báu bên trong mỗi người”công bố ngày 13/12/1999, UNESCO đưa ra bốn trụ cột của việc học trong thiên niên kỷ mới, đó là: Học để biết, học để làm, học để khẳng định bản thân và học để chung sống (learning to know, learning to do, learning to be and learning to live together).
Như vậy, theo quan niệm giáo dục hiện đại, học để ứng xử chỉ chiếm một phần nhỏ. Vì vậy, không nên dùng cái phần rất nhỏ này để bao trùm lên mọi hoạt động giáo dục. Chưa kể, rất nhiều hành động có thể nhân danh chữ “lễ” này để bóp méo việc dạy và học, xâm phạm đến các quyền trẻ em.
Vì thế nếu khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” không còn chỗ đứng thì đó cũng là một điều bình thường.
- Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện thú vị.
  • Chi Mai (thực hiện)
---
Nguồn: Vietnamnet, ngày 7/9/2013

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2013

Con người tự do là đích đến của giáo dục

 - Mở trường trên mạng, TS Giáp Văn Dương theo đuổi triết lý "trên một mệnh đề duy nhất: Con người tự do là đích đến của giáo dục". 

Giáp Văn Dương, giáo dục trực tuyến, miễn phí, MOOCs
TS Giáp Văn Dương: "Tự do bao giờ cũng đi liền với trách nhiệm. Tự do càng lớn, trách nhiệm càng cao". Ảnh: Lê Anh Dũng
Quan niệm của anh về mục tiêu hướng đến của giáo dục là gì?
- Toàn bộ hệ thống giáo dục của GiapSchool, cũng như các hoạt động của nó, được xây dựng trên một mệnh đề duy nhất: Con người tự do là đích đến của giáo dục. Đây chính là triết lý giáo dục của tôi, và do đó của GiapSchool.
TIN LIÊN QUAN
Vậy làm thế nào để có tự do? Tất nhiên phải có tri thức, có hiểu biết. Càng nhiều hiểu biết thì càng tự do. Phải có lựa chọn. Càng nhiều lựa chọn thì càng tự do. Phải biết buông bỏ. Càng biết buông bỏ thì càng tự do. Tất cả những điều này đều được tích hợp vào GiapSchool.
Đến đây chị có thể sẽ hỏi: Vậy vì sao con người tự do lại quan trọng? Vì chỉ khi là con người tự do người ta mới có thể hiển lộ được tất cả các khả năng của mình, và hoàn thiện mình ở mức tốt nhất có thể. Bằng cách đó, họ đã làm chủ được đời sống và tự chịu trách nhiệm với số phận của mình. Còn gì có ý nghĩa hơn khi mỗi người tự làm chủ được đời sống của mình, và tự tay xây đắp số phận của mình, để đến cuối đời, họ không thấy phải hối tiếc, không thấy mình đã phải sống đời sống do người khác áp đặt.
Con người tự do cũng là nguồn gốc của sáng tạo, khoa học và nhân văn. Nhưng tự do bao giờ cũng đi liền với trách nhiệm. Tự do càng lớn, trách nhiệm càng cao. Vì thế, giáo dục cũng nên hướng cho mỗi người trở thành một công dân có trách nhiệm.
Vì sao vậy? Vì trong xã hội hiện đại, sự phân công lao động đã dẫn đến việc mỗi người đều phải nương tựa vào người khác để tồn tại. Vì thế, công dân trách nhiệm là điều cần thiết để duy trì một xã hội phát triển bền vững và công bằng.
Hai điều này, tức con người tự do và công dân trách nhiệm, mới nghe qua thì có vẻ mâu thuẫn. Nhưng kỳ thực là không. Tự do bao giờ cũng đi cùng trách nhiệm. Vì khi có tự do rồi, anh sẽ có xu hướng hành xử có trách nhiệm để bảo vệ tự do của mình và không xâm phạm vào tự do của người khác. Vì thế, con người tự do là gốc gác của công dân trách nhiệm.
Như vậy hẳn nhiên, nếu bắt buộc phải lựa chọn một trong hai, thì tôi sẽ chọn con người tự do trước, sau đó mới đến công dân trách nhiệm.
Tuy nhiên, nhà trường hiện nay thường chỉ nhấn mạnh đến việc giáo dục học sinh phải trở người có ích cho xã hội, tức là công cụ cho một cái gì đó rất trừu tượng, mà lãng quên, hoặc không biết đến, con người tự do và đời sống cá nhân. Điều này rất nguy hiểm. Vì nếu chỉ hướng học sinh trở thành người có ích cho xã hội mà không giúp họ trở thành con người tự do thì họ rất dễ trở thành công cụ, thậm chí nô lệ một cách tinh vi, cho những khái niệm trừu tượng nhân danh trách nhiệm và sự hữu ích.
Anh dạy theo cách mà bản thân muốn hay cách anh cho rằng nhiều người cần đến?
- Con người tự do là đích đến của giáo dục. Vì thế, tôi dạy những thứ tôi thích, có xét đến tính hữu ích của nó. Chỉ khi nào con người ta được tự do làm việc mình thích, thì việc làm đó mới tốt được.
Cũng do quan niệm con người tự do là đích đến của giáo dục, nên tôi hướng người học đến việc trở thành con người tự do thông qua việc tự học, tự khai sáng, tự chịu trách nhiệm với đời sống của mình.
Tôi tự do trong việc dạy, còn anh tự do trong việc học. Mỗi người tự do và tự chịu trách nhiệm trong việc khai sáng bản thân mình.
Vì lẽ đó, tôi đã chọn khẩu hiệu (slogan) cho GiapSchool là: Tự thân khai sáng.
Giáp Văn Dương, giáo dục trực tuyến, miễn phí, MOOCs
"Mỗi người tự do và tự chịu trách nhiệm trong việc khai sáng bản thân mình".Ảnh: Lê Anh Dũng
Anh Nguyễn Quang Thạch – người đang thực hiện dự án “Sách hóa nông thôn” - đánh giá: “Tôi tin chắc rằng hành động của anh Dương sẽ tạo nên làn sóng dân sự hóa giáo dục trong dài hạn. Tác động dân sự như anh Dương đang làm sẽ tạo áp lực với hệ thống giáo dục chính thống để họ điều chỉnh theo hướng tích cực hơn”. Anh nghĩ sao về nhận định này?
- Đó là nhận định chủ quan của anh Thạch. Tôi hy vọng anh ấy đúng. Nhưng tốt nhất là hãy để thời gian trả lời.
Thời gian vừa qua có rất nhiều ý kiến, các cuộc thảo luận về giáo dục, với yêu cầu khẩn thiết phải cải cách. Tuy nhiên, có thể thấy rằng là thảo luận chưa biến thành sự cải thiện. Lãnh đạo ngành “hứa”, nhưng kêu gọi chờ đợi đổi mới theo lộ trình, và dần đưa ra những thay đổi vụn vặt. Có những nhà giáo và nhà trường đã chỉ ra rằng sự thay đổi là có thể - như việc viết và thí điểm bộ SGK mới của nhóm Cánh Buồm - nhưng thành công của họ thường rất khó áp dụng và nhân rộng dù nhiều tâm huyết và tiền bạc đã đổ ra.
Anh có cho rằng việc này dẫn đến sự hoài nghi liệu giáo dục có thể được cải thiện một cách hệ thống?
- Giáo dục hoàn toàn có thể cải thiện một cách hệ thống nếu những người làm giáo dục đủ muốn. Vì nếu đủ muốn, họ sẽ có kế hoạch tổ chức, sẽ tham vấn ý kiến các chuyên gia, và quan trọng hơn là có chương trình hành động cụ thể, có kế hoạch triển khai và giám sát các chương trình đó một cách hiệu quả. Nói tóm lại là nếu đủ muốn thì họ sẽ làm thực sự và bám đuổi đến cùng chứ không chỉ “hứa” hoặc “bức xúc”.
Chị thấy đấy, rõ ràng hệ thống giáo dục này không phải từ trên trời rơi xuống, mà do con người tạo ra. Vậy thì chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi, hoặc ít nhất cũng là cải thiện nó, nếu chúng ta đủ muốn. Từ việc đủ muốn, chúng ta sẽ tìm ra cách thức.
Như vậy, vấn đề là phải đủ muốn, phải hành động, phải thấy đó là trách nhiệm và cơ hội của mình, chứ không phải chỉ hứa rồi bỏ đó cho hết nhiệm kỳ, hoặc triển khai nửa vời rồi tổng kết và báo cáo, hoặc đùn đẩy hết thế hệ này sang thế hệ khác.
Và nếu đủ muốn, thì các nhà quản lý giáo dục sẽ ủng hộ các hoạt động giáo dục dân sự phát triển, như nhóm Cánh Buồm chẳng hạn; sẽ hỗ trợ các nhà giáo, các nhóm có sáng kiến cải cách riêng; sẽ cho thí điểm các mô hình giáo dục mới để rút kinh nghiệm và triển khai đại trà nếu thấy ưu việt hơn mô hình hiện hành.
Ngoài ra, có một khả năng bỏ ngỏ: Có thể các nhà quản lý cũng thực sự muốn cải cách, nhưng chưa biết cải cách theo hướng nào. Các đề xuất mới, mô hình mới chưa thực sự thuyết phục họ và thuyết phục được đám đông, nên không được chấp nhận. Trong trường hợp này, cách tốt nhất là hỗ trợ các mô hình mới này, hoặc ít nhất là không cản trở, để cho thực tế kiểm chứng, thay vì hoài nghi một cách chủ quan phủ nhận ngay từ ban đầu. Nếu mô hình này tỏ ra ưu việt hơn, thì khi đó sẽ tiến hành cải cách cho an toàn.
Tuy nhiên, chúng ta cũng không loại trừ một trường hợp khác, là có những lợi ích đặc thù liên quan đến giáo dục đã cản trở việc cải cách giáo dục, nên mọi việc cứ giậm chân tại chỗ hàng chục năm nay, dù vấn đề ngày càng cấp bách và xã hội ngày càng đòi hỏi một cuộc cải cách giáo dục một cách toàn diện và hệ thống.
Chi Mai(thực hiện)